In bài 
Bà nội Ấn nuôi chim bồ
câu lâu năm khéo tay lắm, nên viết về chim bồ câu thì Ấn có thể viết
một mạch cả chục trang giấy học trò không ngưng nghỉ.
Bà nuôi tài nhất xóm như thế này: Bấy giờ cả xóm Ấn ở, bao nhiêu người
thích nuôi chim bồ câu, người ta ganh tài với bà nội Ấn cũng có phần
đúng, và để có cái hứng cho người ta mua chim bồ câu về nuôi.
Tốn kém lắm, vì "thóc ở đâu, bồ câu ở đó".
Nhà nào nhà nấy mua thóc về, rồi mua chim về.
Nhưng chim ở chả được mấy ngày thì chim bồ câu không trở về nữa.
Dân chúng chung quanh rình rập, tìm ra được là chim của họ đang ở nhà
bà nội Ấn.
Họ vu oan cho bà Ấn là "bắt cóc chim" của
họ. Bà Ấn nghe được tiếng đồn thổi như thế. Bà bắn tiếng cho những
ai mất chim và nhận ra được là chim của họ đang ở nhà bà thì cứ đến
bắt đem về. Bà bảo:
"Tối hãy đến bắt chim mang về, vì ban ngày không
thể rượt chúng được vì chúng thấy đường, chúng bay mất"
Tối đến nhiều
người hàng xóm qua nhà bà nội Ấn để đòi chim. Bà Ấn cứ để họ tự
nhiên bắt. Bà chẳng cần phải canh chừng xem họ có lấy lộn chim của
bà không. Có mấy người khác thật thà hỏi bà Ấn tại sao không kiểm
soát.
Bà bảo: " Chim của tôi, chúng nó biết nhà
tôi."
Bà chỉ sợ họ đem về rồi ăn thịt mất thôi, chứ không, thế nào nó cũng
trở về nhà bà. Ðặc tính này mà người ta dùng chim bồ câu để mang
thư.
Trong thế chiến, người ta dùng chim bồ câu để đưa thư từ Pháp về
London. Người ta nghiên cứu làm sao chim bồ câu bay qua biển đường dài như
vậy ? Rồi người ta khám phá ra là chim bồ câu có nghỉ cánh, đôi khi chỉ
đậu lên một vật gì đó nổi trên mặt biển là bồ câu có thể đứng
đó nghỉ một chút được rồi.
Người ta thì nưng niu chiều chuộng để chim bồ câu ở lại nhà họ.
Trong khi đó thì bà chẳng màng chăm xóc. "Sống chết mặc bay" thế
mà có con nào rời khỏi bà đâu, mà chúng còn "rủ rê" các con
khác đến nữa. Ðàn chim bồ câu của bà mỗi ngày mỗi đông.
Chồng của bà là con cây một cành nhưng sao con cháu bà đông qúa thế
không biết.
Bà thường nói: "Ðất lành chim đậu, Duyên nợ cũng thế"
Ấn thường hay đi kiểm soát chim với bà buổi tối. Bà cho Ấn nhiều bí
quyết thực tế: "Nhân
sao vật vậy".
Cháu "đít tôn" (đích tôn) của bà mà.
Bà chỉ cần giảng dậy cho Ấn về chim bồ câu của bà là Ấn hiểu bài
rồi, không cần diễn nghĩa.
Bà cho Ấn bài học về chim bồ câu không cô đơn. Ghép đôi chúng rất
khó để cho chúng sinh sản. Nhưng khi nó đã dính thì hơn keo dính hồ.
Muốn "ghép đôi" chúng, ban ngày phải xem xét trước, con nào hay
"đi" với con nào. Ði đây đừng tưởng là chúng sẽ tự nhiên
thành đôi với nhau đâu ! nếu không "ghép đôi" chúng.
Dọn sẵn cho chúng một lỗ chuồng thật sạch sẽ, tối đến bắt hai con
vào một lỗ chuồng rồi lấy viên gạch xây nhà bịt lỗ chuồng lại
không cho chúng ra nữa và làm sao trong đó càng tối càng tốt.
Không cho ăn vài ngày, chỉ cho uống thôi, rồi lại cho ăn, rồi lại cho nhịn
ăn. cứ thế kéo dài cả tháng 30 ngày. Bà bảo thế mới đủ "Chu kỳ kinh nghiệm".
Ấn có nhiều thắc mắc của tuổi dậy thì. Bà ôn tồn bảo rằng cháu cứ
nhớ thế và làm thế. Chứ còn cắt nghĩa thì dài dòng lắm bà cũng không
đủ chữ để mà nói. Bà lấy một ví dụ:
"Cháu ăn, thấy dễ hơn hay là học một bài người ta ăn uống,
rồi tiêu hóa ra sao ?"
Ấn phục cách bà lập luận quá. Khi vào tuổi "yêu" cứ thế mà
"yêu... khờ":
"Anh khờ khạo lắm ngu ngơ
qúa.
"Chỉ biết yêu thôi chả biết gì.
Và khi một trong hai của một cặp chết rồi, thì không bao giờ bà có thể
"ép duyên" chúng được nữa. Chỉ còn nước làm món ăn
Chim bồ câu thì bà không bao giờ cắt tiết, nhưng lại bóp cổ cho nó chết.
chỉ vài phút thôi. Người nào không biết làm thịt xúc vật thì thấy thương
"nước mắt cá sấu" cho con chim bị nghẹt thở chết. Vật lông chim bồ câu
cũng giản dị, không cần nước nóng như cạo lông gà vịt.
Lấy ruột ra thế là thịt chim sẵn sàng để hấp.
Món này, thì qúi hoá lắm, vì bà có thuốc bắc để "tiềm" chưng
cách thủy với thịt chim bồ câu.
Ấn chẳng được ăn bao giờ, vì một con chim bồ câu thì chỉ cho một tô
nhỏ thịt và nước tiềm.
Nếu có hỏi bà tại sao Ấn và các trẻ em không được ăn. Bà lại đem
luân lý giáo khoa thư ra giảng dạy:
"Cháu đừng
dài dòng hỏi tại sao. Người lớn mới được ăn".
Thế là Ấn cứ ước ao được
"lớn" để được "yêu" và được ăn thịt bồ câu tiềm.
Ấn khám phá ra bài học để dụ chim bồ câu hàng xóm. chẳng có gì khó cả,
Chim bồ câu thích sạch là một,
Thích chuồng đẹp là hai,
Thóc là ba,
Hạt dưa hấu là bốn
Ðược những đặc tính này thì chim bồ câu mê chủ như người nghiện
điếu thuốc lào. Dù đã chôn điếu xuống, thề đi thề lại: là sẽ
không bao giờ, thế này thế nọ. Nhưng được mấy ngày ? đâu lại như
cũ.
Thảo nào cứ lâu lâu Ấn phải sơn lại chuồng chim bồ câu. Lỗ chim bồ
câu cắt vòng tròn thì cũng phải viền cho nó mầu xanh đậm. còn các chỗ
khác thì phải màu trắng.
Nó lại thích tắm, cứ thùng phi nước nào, buổi sáng Ấn múc nước đầy
vào, thì chúng đứng chung quanh tắm, rồi soi mặt qua mặt nước. Có những
nơi bà còn để gương cho chúng soi nữa. Nhưng nó không ích kỷ giữ sắc
đẹp riêng cho mình như công chúa Narcissism, cô soi mình qua ánh nước rồi
cô ôm chầm lấy sắc đẹp của cô phản ảnh trong ánh nước rồi chết
chìm.
Chim bồ câu có con mắt tròn lồi nổi lên. A` , không còn là hột nhãn nữa.
Không biết tại sao Ấn lại tả như lòng đỏ trứng để trên đĩa. chỉ
khác mầu thôi.
Phải hỏi Ca, xem Ca có từ nào tả mắt chim bồ câu không.
Dĩ nhiên là mắt chim bồ câu thì đẹp rồi. Nhưng có một nghĩa bóng là
"bồ câu biết nhìn đẹp"
Lan Anh 08:40 am 08 June 2001
|
|