Ephata 60.
1. Trong số 25 của Hiến Chế "Vui Mừng và Hy Vọng" khi bàn về phẩm giá cao cả của
bậc hôn nhân, Công Đồng Vatican II đã quả quyết rằng cần phải có một nhân đức
anh hùng mới có thể chu toàn được những nghĩa vụ của đời sống vợ chồng trong gia
đình.
Các vị thánh được gọi là những bậc anh hùng trong Đức Tin. Anh hùng vì hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho Đức Tin. Nhưng cũng anh hùng không kém khi làm chứng cho Đức Tin bằng cuộc sống âm thầm hy sinh từng ngày. Dĩ nhiên không phải chỉ có những Tu Sĩ mới có thể sống được cuộc sống anh hùng như thế. Những người sống bậc vợ chồng nếu không có một sự kiên nhẫn đến độ anh hùng không thể nào chu toàn được ơn gọi và đứng vững trước những thử thách trong cuộc sống chung.
Đời sống cộng đoàn trong Dòng Tu đòi buộc các Tu Sĩ phải giữ ba lời khấn là Khiết Tịnh, Khó Nghèo Và Vâng Lời. Đời sống tu trì là một thể hiện cao độ của Đức Ái. Cả ba lời khấn ấy đều nhằm giúp cho các Tu Sĩ xây dựng cộng đồng yêu thương và như thế trở thành nhân chứng cho tình yêu của Chúa.
Đời sống hôn nhân và gia đình, như Công Đồng Chung Vatican II đã định nghĩa trong Hiến chế Vui Mừng và Hy vọng, thiết yếu là một công đồng tình yêu. Do đó cũng giống như trong tất cả cộng đồng tu trì nào ba lời khấn cũng cần thiết để xây dựng tình yêu trong gia đình. Tình yêu mà đôi tân hôn trao cho nhau trong Bí Tích Hôn Phối cũng chính là một hình thức khấn hứa. Hai người hứa giữ Khiết Tịnh, Khó Nghèo và Vâng Lời đối với nhau.
2. Chúng ta đã bàn đến nhân đức khiết tịnh trong bậc vợ chồng. Giờ đây chúng tôi xin nói đến đức Khó Nghèo mà hai vợ chồng Ki-tô hữu được mời gọi vun trồng để xây dựng cộng đồng tình yêu trong gia đình.
Quyền sở hữu là quyền được gắn liền với quyền được sử dụng của cải. Tuy nhiên quyền sở hữu không phải là một quyền tuyệt đối. Vì những giá trị cao hơn như tình yêu, lòng bác ái, con người có thể từ bỏ một phần hoặc hy sinh hoàn toàn. Một trong những nguy cơ lớn nhất mà quyền sở hữu thường đặt con người vào đó là sự ích kỷ. Bản năng chiếm hữu để khiến cho con người thể hiện quyền làm chủ của mình bằng những phát biểu đại loại như: "Cái này là của tôi, tất cả những cái này là của tôi, tôi sử dụng tuỳ ý tôi" v.v... đàng sau những phát biểu như thế có thể ẩn tàng cả một thái độ ích kỷ khước từ Chúa và cũng chối bỏ tha nhân.
Nhân đức Khó Nghèo mà những người sống đời tận hiến giữ không hẳn chỉ có nghĩa là khước từ quyền sở hữu hoặc sống một cuộc sống khắc khổ, mà chính là chia sẻ cho nhau. Nhân đức Khó Nghèo sẽ trở thành vô nghĩa nếu nó không nhắm đến Đức Ái. Tự nó sự nghèo khó không bao giờ là một nhân đức. Người ta có thể là một con người tham lam ích kỷ ngay cả trong thân phận ngửa tay ăn xin. Khó nghèo chỉ có thể là một nhân đức khi của cải vật chất không được tôn thờ như một cứu cánh và khi con người biết sống chia sẻ cho nhau.
Trong ý nghĩa đó chúng ta hiểu được lời chúc phúc của Chúa Giê-su: "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó". Khi con người biết ra khỏi chính mình để chia sẻ cho tha nhân thì đó là lúc họ đang sống tinh thần nghèo khó.
3. Hơn bất cứ nơi nào, cộng đồng tình yêu do hôn nhân thiết lập càng đòi hỏi con
người sống nhân đức Khó Nghèo hơn.
Thời Giáo Hội tiên khởi, khi nhìn vào cuộc sống cộng đồng tín hữu những người
chung quanh phải thốt lên: "Hãy nhìn kìa, họ yêu thương nhau biết là dường nào
!" Thật thế, người ta ngưỡng mộ các tín hữu sơ khai bởi vì mỗi người bán tất cả
tài sản của mình và góp chung lại với nhau. Đức Ái đã được thể hiện cao độ bằng
sự để chung của cải và chia sẻ cho nhau. Nếu có một xã hội Cộng Sản thực sự thì
cộng đồng các tín hữu tiên khởi chính là xã hội ấy. Nhưng một xã hội Cộng Sản
như thế chỉ có thể hiện hữu được vì xây dựng trên tình thương mà thôi.
Hôn nhân và gia đình là một xã hội mẫu mực và cơ bản của con người. Không có sự chia sẻ trên tình yêu thương, xã hội ấy không thể đứng vững được. Khi hai người phối ngẫu nên một với nhau họ cũng giống như Cộng đồng tín hữu tiên khởi. Họ sẽ để chung của cải, sẽ không còn những phát biểu như: "cái này là của tôi, tôi muốn sử dụng như thế nào tùy ý tôi". Mà chỉ còn chung một ý muốn: "cái này là của chúng ta, chúng ta quyết định chung với nhau".
Người Việt Nam chúng ta nên diễn tả sự để chung, hay đúng hơn, nhân đức Khó Nghèo ấy bằng kiểu nói "của chồng công vợ". Người chồng có đầu tắt mặt tối để làm ra tiền của, tiền của ấy cũng không còn là của riêng mình nữa mà là của chung cho cả hai người. Người vợ có buôn bán tảo tần để kiếm ra tiền của, tiền của ấy cũng là của chung cho cả hai người.
4. Nhân đức nào cũng bao hàm sự hy sinh. Tự nó việc để chung của cải chưa hẳn đã là một nhân đức. Chỉ có nhân đức khi nào con người biết ra khỏi chính mình, lấy ý muốn người khác làm của mình. Như vậy của cải vật chất đã được đặt đúng vào chỗ của nó. Nghĩa là một phương tiện để giúp cho con người đạt được giá trị cao cả hơn trong cuộc sống. Đó là tình yêu và sự thông hiệp giữa vợ chồng.
Nhưng tình yêu và sự thông hiệp ấy không chỉ đóng khung trong quan hệ vợ chồng mà còn được trải dài tới con cái trong gia đình. Khi con cái đã đến tuổi có thể hiểu được giá trị của cải vật chất thì cha mẹ cũng nên cho chúng dự phần vào việc chia sẻ. Điều này sẽ giúp cho con cái biết sống tinh thần chia sẻ và trách nhiệm chung trong gia đình.
Ngoài ra, sự chia sẻ của cải trong gia đình cũng không được đóng khung giữa vợ chồng và con cái. Tinh thần nghèo khó và chia sẻ đích thực cũng sẽ thôi thúc con người ra khỏi ranh giới của gia đình để hướng đến những người chung quanh, nhất là những người nghèo khổ túng thiếu. Hôn nhân và gia đình là một xã hội mẫu mực. Điều đó có nghĩa là tình yêu thương, sự san sẻ trước tiên phải thực hiện trong gia đình để rồi từ đó tràn trào ra cho cả những người chung quanh.
Việc sử dụng của cải là một chất nổ tiềm tàng trong xã hội. Bao nhiêu bất công và tệ trạng xã hội đều bắt nguồn từ lòng tham không đáy và tính ích kỷ của con người. Trong một qui mô nhỏ hơn, việc quản lý của cải trong gia đình cũng là đá thử vàng của tình nghĩa vợ chồng và tình yêu trong gia đình. Biết bao gia đình tan vỡ, biết bao nhiêu xáo trộn trong gia đình đều phát xuất từ tính ích kỷ của con người.
Nhờ Đức Tin soi dẫn, người tín hữu Ki-tô sống bậc vợ chồng và đời sống gia đình sẽ thấy được giá trị chóng qua của tiền bạc, của cải trần thế. Họ nên thánh bằng cách thực thi nhân đức Khó Nghèo qua việc chia sẻ yêu thương giữa mọi thành phần trong gia đình cũng như với mọi người chung quanh.
1. Người Ấn-độ thường kể về việc Thượng Đế tạo dựng
con người có nam và có nữ như sau:
Khi đã dựng nên người nam, Thượng Đế mới sực nhớ rằng Người đã sử dụng hết những
chất liệu cứng. Sau một hồi suy nghĩ, Ngài mới lấy vòng tròn của mặt trăng, vẻ
mảnh khảnh của hoa cỏ, tính thay đổi của gió, sự lãng đãng của mây trời, sự nhút
nhát của loài thỏ, nét hung dữ của hổ trên rừng, tiếng chim hót du dương, sự
chung thủy của một con sư tử mẹ. Gom tất cả những yếu tố ấy lại, Thượng Đế đã
tạo dựng nên người đàn bà và trao ban cho người đàn ông.
Chỉ sau một tuần lẽ người đàn ông trở lại với Đấng Tạo Hóa và thưa với Ngài:
"Tâu lạy Ngài, người đàn bà mà Ngài đã ban tặng cho con không mang lại cho con
một mảy may hạnh phúc nào. Nàng nói huyên thuyên và hành hạ con đủ điều. Nàng
đòi buộc con phải chú ý đến nàng từng giây từng phút. Một việc không ra gì cũng
đủ cho nàng than vãn. Con xin trả nàng lại cho Ngài, bởi vì con không thể sống
với nàng".
Thượng Đế gật đầu đón tiếp người đàn bà. Nhưng cũng chỉ một tuần lẽ sau, người đàn ông đã trở lại than với Chúa: "Lạy Ngài, cuộc sống của con trở thành vô vị và trống rỗng kể từ khi con mang người đàn bà trả lại cho Ngài. Lúc nào con cũng nghĩ về nàng. Lúc nào con cũng nhớ lại lúc nàng nhảy múa ca hát. Nhất là con không thể quên được ánh mắt nàng nhìn con. Và nụ cười của nàng thì lúc nào cũng vang vọng trong trái tim con. Xin cho con được đón nhận nàng lại".
Thượng Đế lại trao trả người đàn bà cho người đàn ông. Nhưng không đầy ba ngày
sau người đàn ông lại dẫn người đàn bà đến trước mặt Ngài và cũng lập lại một
điệp khúc: "Ngài ơi, con không biết làm sao để diẽn tả tâm trạng của con. Nhưng
sau những kinh nghiệm trải qua với người đàn bà này, con nhận thấy rằng nàng
mang lại cho con nhiều đau khổ hơn là hạnh phúc. Một lần nữa con van Ngài, con
xin trả nàng lại cho Ngài, bởi vì con không thể sống với nàng".
Lúc bấy giờ Thượng Đế mới phán bảo: "Ngươi không thể sống mà không có người đàn
bà". Nói thế rồi Ngài bỏ mặc cho hai người đứng đó và tiếp tục công việc của
Ngài. Người đàn ông chỉ còn biết thốt lên: "Tôi phải làm gì bây giờ ? Tôi không
thể sống với nàng, nhưng tôi cũng không thể sống thiếu nàng".
Mượn câu chuyện dụ ngôn trên đây, chúng tôi muốn nêu bật điều mà Công Đồng Chung Vatican II đã nói trong số 49 của Hiến Chế "Vui Mừng và Hy Vọng" rằng để có thể chu toàn trách nhiệm của đời sống hôn nhân và gia đình, người ta cần phải có những nhân đức anh hùng. Quả thực nếu không có sự can đảm của bậc anh hùng người ta không thể sống trọn ơn gọi của bậc vợ chồng. Chúng tôi đã nói đến hai nhân đức anh hùng trong bậc hôn nhân là Khiết Tịnhvà Khó Nghèo. Giờ đây chúng ta bàn đến nhân đức thứ ba là Vâng Lời.
2. Nếu có vâng lời thì chỉ có người vợ vâng lời chồng mà thôi, không vậy thì ông
bà ta đâu có nói đến chuyện dạy vợ, giáo dục vợ. Thánh Phao-lô há chẳng nói
chồng là đầu, là thủ lãnh của vợ đó sao ? Nghĩ như thế là chối bỏ sự bình đẳng
giữa vợ chồng và nghĩ như thế cũng có nghĩa là không lấy tình yêu thương làm
giây ràng buộc giữa vợ chồng. Thật ra sự vâng phục giữa vợ chồng mà chúng ta
đang đề cập ở đây. Chính là sự phục vụ lẫn nhau.
Khi nói người chồng là thủ lãnh của vợ Thánh Phao-lô cũng xác định rằng tương
quan ấy cũng giống như tương quan giữa Chúa Ki-tô và Giáo Hội. Chúa Ki-tô làm
đầu Giáo Hội nhưng lại trao ban mạng sống mình vì Giáo Hội. Ở đây chúng ta thấy
rằng phục vụ chính là danh hiệu mới mà Thánh Phao-lô muốn gán cho hai chữ vâng
lời. Vâng lời là phục vụ. Thánh Phao-lô đã nói về Chúa Giê-su như sau: "Ngài đã
vâng phục và vâng phục cho đến chết". Thực thế ý nghĩa của sự vâng lời của Chúa
Giê-su, chính là phục vụ. Cái chết trên thập giá của Ngài là tột đỉnh của sự
vâng lời và phục vụ Chúa Giê-su chính là mẫu mực của sự Vâng Phục.
3. Qua Bí Tích Thánh Tẩy, người tín hữu Ki-tô được nên một với Chúa Giê-su. Họ
đi lại con đường vâng phục của Ngài. Nhưng trong Bí Tích Hôn Phối người tín hữu
còn sống tinh thần vâng phục của Chúa Giê-su một cách đặc biệt hơn. Cộng đồng
tình yêu được thiết lập qua Bí Tích Hôn Phối đòi hỏi hai người phối ngẫu phải
thực thi sự vâng lời hơn bất cứ nơi nào. Trong quan hệ vợ chồng không có ai làm
đầu hay làm bề trên. Mỗi người đều là đầu của người khác. Bởi vì cả hai đã nên
một trong thể xác và tinh thần.
Mỗi người là đầu của người khác. Vợ là đầu của chồng, chồng là đầu của vợ. Vì
thế sẽ không còn chuyện "chồng chúa vợ tôi" hay "phu xướng phụ tuỳ" nữa. Câu hỏi
mà vợ chồng đặt ra không còn phải là: ai điều khiển hay ai làm chủ trong nhà, mà
phải là: ai phục vụ ai và phải phục vụ như thế nào mà thôi. Nói đến phục vụ là
nói đến quên mình. Là Thầy và là Chúa, Chúa Giê-su đã phục vụ như một người tôi
tớ. Trong Bí Tích Hôn Phối hai vợ chồng Ki-tô hữu cam kết làm chứng cho tình yêu
và sự vâng phục của Chúa Giê-su bằng chính cuộc sống của họ. Nếu không có sự
quên mình, nếu không có sự vâng lời và phục vụ nhau, làm sao họ có thể làm nhân
chứng cho tình yêu của Ngài được ?
Lm. HUỲNH SAN ( Australia )