VietCatholic News (02/10/2003 )
Chúa Nhật
27 Thường Niên B
Mc 10,2-16
Thưa quý vị,
Tôi vừa chủ toạ một thánh lễ với những người ly dị. Họ lập thành
cộng đoàn nhỏ mà tôi hết lòng ngưỡng mộ. Họ là những thành viên mới
ly dị hay ly dị đã lâu. Và bởi lẽ họ đều mang những vết thương lòng
sâu sắc nên họ rất thông cảm với những người cùng cảnh ngộ. Họ
bình thường như bao nhiêu người khác trong giáo xứ, nhưng vẫn cảm thấy
lẻ loi và mang nhiều mặc cảm. Nhất là về phía nữ giới. Theo thống kê
thì hiện nay trên đất nước Hoa Kỳ tỉ lệ ly dị là 50%. Một con số đáng
chúng ta quan tâm suy nghĩ. Không kết án họ nhưng cũng không thể bỏ qua.
Trong giáo xứ rồi sẽ có những cặp ly dị, những gia đình lộn xộn trù
tính ly dị và các trẻ nhỏ phải sống với cha hoặc mẹ độc thân. Cũng
phải liên tưởng đến các thanh niên thiếu nữ trong cộng đoàn đang dự
định kết hôn. Họ có thể hiểu lầm lời rao giảng của Chúa Giêsu trong
Tin mừng hôm nay như một lời mời gọi không thực tế. Lại nữa, thoạt
nghe, những người đang gánh chịu đau khổ, dằn vặt trong gia đình cảm
thấy sứ điệp của Ngài mâu thuẫn với kinh nghiệm họ đang phải trải
qua. Cho nên chúng ta cần suy gẫm thấu đáo hơn về bí tích hôn phối.
Bài đọc một trích sách Sáng thế ký (2,18), Thiên Chúa tạo dựng Adam trước
rồi đến Evà trong cách thức hoàn toàn khác nhau. Adam từ bụi đất và
Evà từ xương sườn Adam. Khi vừa được dựng nên, Adam đã được Thiên
Chúa ban quyền quản lý vũ trụ và các sinh vật trong đó. Bất cứ sinh vật
nào đi qua trước ông, ông đều cho một cái tên và tên ấy sẽ thuộc về
sinh vật đó mãi mãi. Nhưng Adam vẫn cô đơn, ông vẫn chờ đợi một người
bạn có thể hiểu và hợp tác với mình. Bởi lẽ các sinh vật khác hoàn
toàn xa lạ. Như thế có thể nói rằng đời sống và sự tạo dựng của
các sinh vật kém hơn của con người. Khi Evà được tạo dựng thì không
trực tiếp bởi bụi đất, nhưng từ chất liệu lấy từ Adam. Do đó, bà
hoàn toàn lệ thuộc vào Adam và được dựng nên cho Adam: “Xương bởi
xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã
được sinh ra từ đàn ông.” Câu nói quá rõ ràng về nguồn gốc của
tình yêu hôn nhân, gia đình và sự lệ thuộc hỗ tương giữa hai người
nam nữ. Hai người có cùng một bản tính nhân loại nhưng nhiệm vụ khác
nhau. Chính Adam đã xác nhận sứ vụ của vợ mình: “Con người đặt tên
cho vợ là Evà, vì lẽ bà là mẹ của chúng sinh” (St 3,20).
Qua dòng lịch sử, truyền thống của nhiều tôn giáo đã dùng hình ảnh
hôn nhân để diễn tả mối liên hệ mật thiết giữa thần linh với dân
tộc mình hoặc cá nhân. Dân Do Thái cũng không ra ngoài thông lệ. Cựu ước
đã nhiều lần dùng hình ảnh này để nói về sự gắn bó giữa Thiên
Chúa và tuyển dân. Thí dụ rõ ràng nhất là Sách Diễm tình ca. Nó là cả
một bài thơ dài mô tả tình thắm thiết giữa Đức Chúa Trời và dân tộc
Israel. Nó dùng toàn ngôn ngữ và hình ảnh tình yêu lứa đôi theo cách thức
loài người.
Nhiều sách khác trong văn chương Do Thái cũng mượn truyện hôn nhân để
cho biết tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại như Giêrêmia, Êzêkiel,
Amos, Hôsê,.. Bước sang thời kỳ Tân Ước, các tác giả Kinh Thánh vẫn
dùng hình ảnh phổ thông đó mà nói về Chúa Giêsu với Giáo Hội của
Ngài. Thánh Phaolô viết cho tín hữu Côrintô như sau: “Thật thế, vì
anh em, tôi ghen cái ghen của Thiên Chúa, bởi tôi đã đính hôn anh em với một
người độc nhất là Đức Kitô, để tiến dâng anh em như một trinh nữ
trinh khiết” (2 Cr 11,2). Hay Mt 9,15 : “Đức Giêsu trả lời: chẳng lẽ
khách dự tiệc lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ?”
Hay Ga 3,28: “Tôi đây không phải là Đấng Kitô mà là kẻ được sai
đi trước mặt Người. Ai cưới cô dâu người ấy là chú rể.” Như
vậy, cả hai giao ước cũ và mới đều nhất trí dùng hình ảnh hôn nhân
để mô tả tình yêu cao vời của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài. Do
đó, chúng ta hiểu được ý nghĩa sâu xa của tình yêu hôn phối. Không những
nó là một thực tại trần thế, không tàn phai mà còn là biểu tượng
vĩnh viễn mối dây Thiên Chúa yêu thương loài người. Trong lễ cưới của
người công giáo, Hội Thánh đã nêu lên biểu tượng này khi chúc lành cho
đôi vợ chồng mới: “Lạy Chúa, Chúa đã thánh hiến sự phối hợp vợ
chồng bằng mầu nhiệm cao cả, để dùng khế ước hôn nhân mà báo trước
mầu nhiệm kết hiệp giữa Chúa Kitô và Hội Thánh.” Hoặc những lời
khác tương tự: “Lạy Chúa, để mặc khải mầu nhiệm yêu thương, Chúa
đã lấy sự kết hợp giữa hai vợ chồng làm hình ảnh giao ước giữa Chúa
và Hội Thánh. Chúng con nài xin Chúa…” Cũng như hôn nhân lý tưởng là
hai vợ chồng hiến thân cho nhau, thể xác và tâm hồn, như món quà ban tặng,
thì tình yêu giao kết của chúng ta và của toàn thể Hội Thánh với Thiên
Chúa phải trọn vẹn như vậy. Sự đáp trả của linh hồn không thể có
chút bợn nhơ, hậu ý mà phải tinh tuyền và trọn hảo. Kết quả của
tình yêu hôn nhân là con cái. Kết quả của tình yêu hiến dâng Thiên Chúa
là sự thánh thiện và những công việc bác ái mình thực hiện cho tha
nhân. Ích kỷ không thể nào và không bao giờ là tình yêu thiêng liêng, nó
là sự dối trá trắng trợn, một cạm bẫy của Satan. Đời sống của những
vị thánh trong Giáo Hội là bằng chứng rõ nét cho sự thật đó. Nó là sự
thể hiện rõ ràng các Ngài yêu mến Thiên Chúa và Thiên Chúa yêu thương các
Ngài. Tình yêu này không bao giờ tan vỡ. Các Thánh không bao giờ phản bội
Thiên Chúa vì cảm nghiệm được tình Chúa xót thương mình. Những ân huệ
hàng ngày thúc giục các Ngài yêu mến và tạ ơn. Như vậy, chúng ta cũng
phải vững bụng rằng Thiên Chúa không khi nào bẻ gãy tình yêu của Ngài
đối với nhân loại, đối với mỗi người chúng ta. Ngài không hề thất
vọng nơi các linh hồn, bỏ rơi hoặc ngoảnh mặt không yêu thương, trợ
giúp họ nữa.
Vì thế trong bài Phúc âm Chúa Giêsu nhắc lại truyền thống nhiệm màu của
Kinh Thánh mà tuyên bố mối ràng buộc hôn nhân là không tháo gỡ được.
Nó là dấu chỉ hữu hình tình yêu vô hình và hiệu quả của Thiên Chúa
đối với nhân loại. Ngài khẳng định tính bền vững của hôn nhân. Nó
có ý nghĩa vượt xa sự kết hiệp giới tính. Nó không phải chỉ liên
quan đến thân xác mà còn bao hàm toàn thể nhân sinh. Đôi vợ chồng là một
về xác thịt và cũng là một về hiện hữu (une seule chair, un seul être).
Vì thế, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình. Rõ
ràng ông Adam không có cha mẹ để lìa bỏ. Lời tuyên bố của Sách Thánh
nhắm đến toàn thể nhân loại. Tác giả muốn gọi sự kết hợp này là
thuộc về “trái tim”, phát xuất từ trái tim, nơi thẳm sâu nhất của tồn
tại con người. Hôn nhân, do đó, là sự dấn thân của hai trái tim giống
như tình yêu trung tín (hesed) của Đức Chúa Trời. Lòng thương yêu này vượt
trên cả tội lỗi và nết xấu của mỗi người. Tức là trung tín trong bất
cứ tình huống nào. Vì Thiên Chúa không thể bất trung với chính Ngài. Lời
thề trong lễ hôn phối của đôi vợ chồng mới là: “giữ lòng chung
thuỷ khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh
khoẻ” vang vọng tình yêu hered của Thiên Chúa. Cho nên, chúng ta phải
đáp trả cho cân xứng. Nghĩa là trung tín với Ngài trong bất cứ hoàn cảnh
nào, thuận lợi cũng như khi gặp khó khăn, khoẻ mạnh cũng như khi yếu
đau. Đừng bao giờ lãng quên giao ước giữa ta với Đức Chúa Trời.
Hình ảnh tình yêu hôn phối còn giúp chúng ta suy gẫm về bí tích Thánh Thể
trong thánh lễ hôm nay. Phép lạ đầu tiên Chúa Giêsu thực hiện là ở
trong bữa tiệc cưới. Hai người thề hứa yêu thương và trung thành trọn
đời là cơ hội tốt để Chúa Giêsu mặc khải tình yêu Thiên Chúa đối
với chúng ta. Ngài cũng đổ tràn đầy tình yêu và ân huệ vào lòng chúng
ta, như ban cho đôi tân hôn hơn bốn trăm lít rượu ngon. Rượu của niềm
vui và hạnh phúc. Âu huệ và lòng xót thương của Ngài cũng tràn trề
trên mỗi linh hồn. Xin hân hoan cử hành thánh lễ này. Đúng thật, sự sống,
sự chết và sống lại của Ngài đã sinh hoa trái lạ lùng cho mỗi linh hồn,
cũng như hôn phối mang tình yêu, nhẫn nại, hy sinh, độ lượng, tha thứ,
bền vững cho mỗi gia đình công giáo. Lòng trung tín trong hôn nhân của
các tín hữu là hình ảnh cực kỳ sống động Chúa Giêsu luôn ngự giữa
Hội Thánh trong mọi tình huống. Dĩ nhiên khế ước hôn nhân nhiều khi bị
bẻ gãy, chia lìa bởi những lý do loài người không lường trước được
như phản bội, thói xấu, kinh tế,… Nhưng tất cả đều là tội lỗi, yếu
đuối về phần con người. Trong Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu rao giảng hôn
nhân lý tưởng, nằm trong tầm tay của con người, bởi nó phản ánh ý định
nguyên thuỷ của Thượng Đế khi tác tạo nhân loại. Như chúng ta đã thấy,
sách Sáng Thế ký nói về một hôn nhân bền vững, không chia lìa: “Họ
không còn là hai, nhưng là một.” Sau khi con người sa ngã, bản tính trở
nên yếu đuối, ngu xuẩn, dễ bị Satan lừa dối mà phạm tội, phá đổ hạnh
phúc của chính mình. Chúa Giêsu thương chỉnh đốn lại hôn nhân lý tưởng
để chúng ta nhận ra lỗi lầm của mình, quay về với chính mình và với
Thiên Chúa cùng đồng loại.
Cho nên Phúc âm hôm nay trình bày cho chúng ta cái nhìn hoàn toàn mới về căn
tính của hôn nhân và đường lối sống thế nào cho hợp với chương trình
nguyên thuỷ của Thiên Chúa. Dù còn độc thân, kết bạn hay đã ly dị,
chúng ta đều có thể nhận ra phải trái trong cuộc đời. Chúng ta hằng
ngày vật lộn với bao nhiêu khó khăn, kể cả trong hôn nhân, để trung thành
với Thiên Chúa. Chúng ta có bí tích Thánh Thể, hãy cậy trông vào Chúa
Giêsu giúp đỡ vượt qua mọi khó khăn. Chúa Thánh Thể là biểu trưng của
lòng Thiên Chúa xót thương và trung tín (hesed và rahamim). Ngài luôn ngự giữa
chúng ta, hướng dẫn mọi nỗ lực, ý tưởng mỗi người theo nẻo chính
đường ngay. Chúng ta hy vọng từng bước trong cuộc đời, sống trung tín
với giao ước của Ngài và với tha nhân. Nếu như chúng ta có trái tim “chai
đá” như các kinh sư trong phúc âm, thì xin Ngài uốn nắn để có thể cải
tạo, ngõ hầu xoá bỏ được các lỗi lầm mà quay về với tương lai
tươi sáng của kiếp sống làm con cái Thiên Chúa tình thương. Amen.
Ghi chú : Xin đọc thông điệp “Thiên Chúa giàu lòng thương
xót” (Deus dives in Misericordia) của Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày
30/11/1980 để có thể hiểu được hai từ “hesed” (tình yêu trung tín)
và rahamim (tình yêu xót thương) của Cựu ước mà tác giả nhắc tới
trong bài suy gẫm này.
Lm. Jude Siciliano, OP.