VietCatholic News (20/07/2003 )
Để có cái nhìn tổng quát về
Giáo Hội Công giáo quan niệm như thế nào về hôn nhân, trong bài này
chúng ta tìm hiểu qua những Tông huấn của Giáo Hội, đặc biệt là Tông
huấn về gia đình của ĐTC Gioan Phaolô II ban hành ngày 22 tháng 7 năm 1982.
1
1- CON NGƯỜI LÀ HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA TÌNH YÊU
”Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài, giống như họa
ảnh của Ngài (St 1,26-27). Khi vì yêu thương mà kêu gọi con người bước
vào cuộc sống, Ngài cũng đồng thời mời gọi họ sống cho tình yêu thương.
Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4,8) và nơi chính mình Ngài, Ngài đang sống mầu
nhiệm hiệp thông yêu thương giữa các ngôi vị. Khi tạo dựng nhân tính của
người nam và người nữ theo hình ảnh Ngài và liên lỉ bảo toàn cho nhân
tính ấy được hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như cả
khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống tình yêu
và hiệp thông (MV 12). Tình yêu thương là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của
mọi con người. Bởi vì con người là một tinh thần nhập thể, nghĩa là
một linh hồn biểu lộ trong một thân xác và là một thân xác được sinh
động cho một tinh thần bất tử, nên nó được mời gọi sống yêu thương
trong toàn thể tính thống nhất của nó. Tình yêu thương cũng bao gồm cả
thân xác con người và thân xác được dự phần vào tình yêu thương của
tinh thần” (Tông Huấn về Gia đình Công Giáo FC).
Như chúng ta đều biết, Thánh Kinh dạy:”Thiên Chúa sáng tạo con người
theo hình ảnh mình; Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên
Chúa. Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Từ đoạn
văn súc tích này, Tông Huấn về gia đình cho chúng ta thấy bốn điểm chính
sau đây:
a- Con người là đỉnh cao của công cuộc Tạo dựng của Thiên Chúa trước
toàn thể thụ tạo trong thế giới hữu hình. Con người được khai sinh từ
lời mời gọi bước vào sự hiện hữu có nam có nữ; con người là vinh
quang của toàn thể công trình tạo dựng; người nam và người nữ đều là
những tác tạo, Cả Hai Đều Bình Đẳng Với Nhau, cả hai đều được sáng
tạo theo hình ảnh Thiên Chúa. (MD 6).
b- Mỗi người là hình ảnh của Thiên Chúa xét như là thụ tạo có lý
trí và tự do, có khả năng nhận biết và yêu mến Thiên Chúa. Chính vì
được sáng tạo theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, nên Con Người Là Một
Ngôi Vị (MD 7).
c- Bản chất của con người có Tính Xã Hội
- ”Do sự kiện người nam và người nữ đều là những ngôi vị con người;
theo một nghĩa nào đó, điều này giúp cho cả hai luôn khám phá lại và
xác nhận lại ý nghĩa toàn vẹn nhân tính của mình. Chúng ta có thể hiểu
được dễ dàng rằng, trên bình diện căn bản này, đây là một sự ”Trợ
Giúp” từ cả hai phía, đồng thời là sự trợ giúp hỗ tương cho nhau. Sống
Làm Người Có Nghĩa Là Được Mời Gọi Sống Hiệp Thông Liên Ngôi Vị”
(MD 7).
- ”Người nam và người nữ được mời gọi ngay từ đầu, không những
sống bên cạnh nhau hay sống chung với nhau, nhưng còn được mời gọi để
sống cho nhau, bổ túc cho nhau trong cuộc sống” (MD 7).
- ”Sự kiện là hình ảnh và giống Thiên Chúa nơi con người có nam có nữ,
cũng diễn tả sự duy nhất của cả hai trong cùng một nhân tính. ”Sự hiệp
nhất của hai người” là dấu chỉ sự hiệp thông liên ngôi vị, cho thấy
rằng, trong việc sáng tạo, con người cũng mang một nét tương tự nào đó
giống như sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa”. Nét tương tự này
là một đặc tính của ngôi vị con người, của cả nam lẫn nữ, đồng
thời cũng là một ơn gọi và là một bổn phận” (MD 7).
d) Tính chất bổ khuyết giữa nam nữ
”Ngài đã tạo dựng loài người có nam có nữ” (St 1,27) trong sách Sáng
Thế, dường như là để qui về chính tính cách nhị phân ấy. Đây cũng
chính là lời khẳng định đầu tiên về sự bình đẳng phẩm giá giữa
người nam và người nữ: cả hai cũng đều là những ngôi vị ngang nhau. Sự
cấu thành người nam người nữ, cùng với phẩm chất đặc loại bắt nguồn
từ đó, ngay từ ”buổi đầu” đã thiết lập nên những đặc tính cho
sự thiện chung của nhân loại trong mọi chiều kích và nơi mọi môi trường
sống. Đối với sự thiện chung này, cả hai, nam lẫn nữ, đều mang lại
phần đóng góp riêng của mình, nhờ đó mà ngay tận cội rễ của tình trạng
loài người chung sống liên đới và huynh đệ có được tính chất hiệp
thông và Tính Chất Bổ Khuyết Lẫn Nhau” (FC 6).
Tóm lại, chúng ta có khẳng định rằng tính xã hội của con người không
căn cứ vào nhu cầu thể lý hay sinh lý, nhưng chính là do sự an bài và
tình yêu của Thiên Chúa đã đặt trong tâm hồn con người. ”Tình yêu thương
là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi con người” (FC 11).
2- NGUỒN GỐC CỦA HÔN NHÂN
«Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống
chung thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Đời sống chung này
được gầy dựng do giao ước hôn nhân, nghĩa là sự ưng thuận cá nhân
không thể rút lại. Như thế, bởi một hành vi nhân linh, trong đó, hai vợ
chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa,
phát sinh một định chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa.
Vì lợi ích của lứa đôi, của con cái và xã hội, nên sợi dây liên kết
thánh thiện này không lệ thuộc sở thích của con người. Chính Thiên
Chúa Là Đấng Tác Tạo Hôn Nhân, phú bẩm những lợi ích và mục tiêu
khác nhau” (GS 48).
Qua đoạn văn trên của Công đồng Vaticanô II qua hiến chế về Mục vụ của
Giáo Hội trong thế giới ngày nay cho chúng ta thấy nguồn gốc hôn nhân:
Chính Thiên Chúa là Đấng thiết lập hôn nhân. ”Hôn nhân không phải do
ngẫu nhiên hay do sự biến hóa của các sức mạnh vô tri trong thiên nhiên
tạo thành. Hôn nhân là do một sự sắp đặt khôn ngoan của Đấng Tạo Hóa
để thực hiện ý định yêu thương của Ngài giữa nhân loại” (HV 8).
Qua những lời giảng dạy của Đức Giêsu về hôn nhân, cũng như để giải
quyết vấn đề thắc mắc của nhóm Biệt phái; Đức Giêsu luôn quay về với
ý định ban đầu của Thiên Chúa. Qua lời giải thích, Người khẳng định
lại, chính Thiên Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân: ”Các ông không đọc
thấy điều này sao?” Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người
có nam có nữ” và Người phán: ”Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ
mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt”.
Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy,
sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt
19,4-6). Vì Thiên Chúa là Đấng đã tác tạo hôn nhân, nên chính Người
cũng đã đặt Mục Đích Và Đặc Tính cho hôn nhân.
3- MỤC ĐÍCH CỦA HÔN NHÂN
«Trong hôn nhân, vợ chồng dâng hiến thân xác cho nhau bằng một cử chỉ
đặc biệt và giới hạn giữa hai người, để kết hợp với nhau nên một,
với mục đích giúp nhau phát triển con người và cộng tác với Thiên
Chúa để sinh sản và giáo dục những sự sống mới” (HV 8).
Vậy có thể nói, Hôn nhân theo cái nhìn của Giáo Hội gồm có 2 mục đích
chính: 1- Giúp nhau phát triển con người và cùng nhau hướng về thiện ích
của đôi bạn. 2- Sinh sản và giáo dục con cái.
ĐTC Gioan-Phaolô II trong thư gởi cho gia đình, ngài viết: ”Sự ưng thuận
trong nghi lễ hôn phối tạo sự chuẩn xác và ổn định cho Thiện Ích Vốn
Là Chung Cho Hôn Nhân Và Gia Đình... Những lời ưng thuận trong nghi lễ hôn
phối xác định những yếu tố cấu tạo nên Thiện Ích Chung của đôi bạn
và gia đình. Trước hết, thiện ích chung của hai vợ chồng: tình yêu,
lòng chung thủy, sự tôn trọng, thời hạn cho đến chết của sự kết hợp,
”mọi ngày trong suốt cuộc đời”. Vốn cùng một lúc là thiện ích của
mỗi bên, thiện ích chung của hai người sau đó phải trở thành thiện
ích của con cái. Do tự bản chất, thiện ích chung vừa kết hợp các ngôi
vị lại với nhau, vừa bảo đảm cho thiện ích đích thực của mỗi ngôi
vị” (số 10). «Bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ ”không
còn là hai, nhưng là một xương thịt” (Mt 19,6), phục vụ và giúp đỡ lẫn
nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và cả hành động của
họ, cảm nghiệm và hiểu biết được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày
một đầy đủ hơn” (GS 48). Hôn nhân hết sức quan trọng đối với ”Sự
tiếp nối nhân loại, sự phát triển cá nhân, sự phát triển phần rỗi
đời đời cho mỗi thành phần trong gia đình. Phát triển đối với phẩm
giá, sự vững chãi, an bình và thịnh vượng của chính mình và của xã hội
” (GS 48) Hôn nhân giúp con người phát triển bản thân, phát triển gia đình
và xã hội, vươn đến hạnh phúc toàn diện của con người.
BÍ TÍCH HÔN NHÂN CÔNG GIÁO
Thiên Chúa đã lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân
mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Đời sống chung này được gầy
dựng do giao ước Hôn nhân, tức là do sự ưng thuận cá nhân không thể
rút lại. Như thế, bởi một hành vi nhân linh, trong đó hai vợ chồng tự
hiến cho nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một
định chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa» (MV 48).
Đó là lời xác tín của Công Đồng chung Vaticanô II về hôn nhân Công
Giáo như một định chế xuất phát từ ý định của Thiên Chúa qua sự
ưng thận hoàn toàn tự do một người nam và một người nữ. Vì thế Hôn
Nhân Công Giáo là một Bí tích cử hành trong Giáo Hội.
1- Hôn nhân Công giáo là một Bí Tích
Khi nói đến hôn nhân, tự bản chất tự nhiên của nó là một giao ước
ký kết giữa một người nam và một người nữ, với đầy đủ tự do và
ý thức trách nhiệm của mỗi người, nhằm mục đích sống yêu thương nâng
đỡ trong tình yêu vợ chồng. Kế tiếp là việc sinh sản và giáo dục con
cái trong trách nhiệm làm cha làm mẹ. Hôn nhân Công Giáo cũng không ngoài
ý nghĩa đó: «Người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ để kết hợp với vợ mình,
cả hai trở nên cùng một thân thể...».
Qua Bí tích là những dấu hiệu bên ngoài như cử chỉ và lời khấn hứa...
Bí tích hôn nhân, hai người nam và nữ thề hứa trước bàn thời Chúa, với
dự hiện diện và minh chứng của Linh mục cũng như những chứng nhân. Qua
đó, Thiên Chúa ban ân sủng của Ngài cho đôi tân hôn. Vì thế, thông qua
các Bí tích được cử hành trong Giáo hội Thiên Chúa hành động và ban
ân sủng. Thiên Chúa ban cho đôi hôn nhân ơn tự nhiên và siêu nhiên để họ
chu toàn bổn phận trách nhiệm vợ chồng, cha mẹ trong đấng bậc của họ...
nhờ dòng suối ân sủng ấy, đôi bạn được nâng đỡ trong nỗ lực thánh
hóa bản thân qua lời cầu nguyện và tham dự vào các Bí tích khác của
Giáo hội. Công Đồng chung Vaticanô II nói: «Vợ chồng Kitô-hữu được củng
cố và như được thánh hiến bằng một Bí tích để chu toàn xứng đáng
các bổn phận trong bậc sống của họ. Nhờ sức mạnh của Bí tích này,
họ được thấm nhuần Đức tin, Đức cậy, Đức mến và ngày càng tiến
gần hơn tới sự trọn lành riêng biệt của họ và thánh hoá lẫn nhau;
và bởi đó, họ cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa» (MV 48; Cl 3, 12-17).
2- Mẫu gương của khế ước hôn nhân
Hôn nhân Công giáo luôn nhìn lên mẫu gương giao ước của chính Thiên
Chúa đối với dân Ngài và với Giáo Hội qua dòng thời gian lịch sử ơn
cứu độ.
a- Giao ước của Thiên Chúa trên núi Sinai. Xưa kia Thiên Chúa đã ký kết
giao ước với dân Israel một giao ước trên núi Sinai. Qua giao ước này,
Thiên Chúa nhận Israel là dân riêng của Chúa, còn dân Israel thì nhận
Thiên Chúa là Chúa của họ và thờ phượng Người hết tình (Xh 19-20). Đó
là giao ước cũ.
b- «Vào thời kỳ viên mãn», Thiên Chúa đã sai Con một của Người là Đức
Giêsu đến trong thế gian để cứu chuộc nhân loại. Chính Đức Giêsu đã
thiết lập với nhân loại một giao ước trong Máu Người. Mt. 26,26-29. Đó
là Giao ước Mới. Sau khi thiết lập giao ước này và với Giáo hội của
Ngài, Chúa Giêsu mãi mãi yêu thương Giáo hội mà Ngài đã thiết lập cũng
như tiếp tục hiến thân làm của ăn nuôi dưỡng chúng ta qua bí tích
Thánh Thể, và Giáo hội cũng mãi mãi yêu mến và phục vụ Chúa Giêsu như
vậy.
c- Qua Giáo hội, Chúa Giêsu vẫn giảng dạy nhân loại bằng Lời và bằng
dấu chỉ qua các Bí tích. Hành động đó biểu lộ tình yêu cao cả của
Người đối với nhân loại.
- Tình yêu của Chúa Giêsu luôn liên kết với Giáo hội và với mọi
kitô-hữu «Như cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con. Hãy ở lại trong
tình yêu của Thầy» Ga 15,9. Chính tình yêu liên kết này là điều kiện kết
hợp và mang hoa kết quả của mỗi kitô-hữu. Nếu tình yêu của chúng ta
không liên kết với Đấng là nguồn Tình yêu, chắc chắn tình yêu của
chúng ta sẽ không tồn tại được bao lâu!
- Tình yêu hiến thân: «Máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu sẽ đổ ra
cho các con và mọi người được tha tội» Mt. 26,28. Chúa Giêsu hy sinh mạnh
sống mình cho nhân loại để nhân loại được giao hoà với Thiên Chúa và
được sống. Đó là tột đỉnh của tình yêu: «Không có tình yêu nào lớn
hơn là thí mạng sống mình vì người mình yêu».
- Sự trung thành của Chúa Giêsu đối với Giáo Hội: «Thầy sẽ ở lại với
các con mọi ngày cho đến tận thế» Mt. 28,20. Còn gì hạnh phúc khi biết
được chính Thiên Chúa đồng hành với chúng ta! Giáo Hội không có sự hiện
diện và đồng hành của Chúa Giêsu chắc chắn sẽ không thể tồn tại
qua những cơn sóng gió bách hại. Nếu thiếu vắng sự sống thần linh chắc
chắn chúng ta không đủ sức để loan báo Tin Mừng Nước trời và hy vọng
một sự sống vĩnh cửu.
Vì thế, tình yêu của hôn nhân Công giáo được ví như tình yêu của
chính Chúa Giêsu đối với Giáo Hội. Đôi bạn cũng phải noi gương tình
yêu đó trong cuộc sống vợ chồng: biết yêu thương và kết hợp với
nhau cho trọn cuộc đời; sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm cho nhau, trung
thành với nhau và biết hy sinh cho lợi ích chung cũng như lợi ích của con
cái là hoa trái của tình yêu vợ chồng. Luôn giúp nhau thăng tiến và chiếu
tỏa tình yêu của mình chung quanh... có như thế Hôn nhân Công giáo mới thực
sự sống Tin Mừng và liên kết với Tình Yêu Thiên Chúa.
3- Đặc tính của hôn nhân Công giáo
«Bởi giao ước Hôn nhân, người nam và người nữ không còn là hai nhưng
là một xương thịt» (Mt 19,6) phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau trong bằng sự
kết hợp mật thiết trong con người và trong hành động của họ, cảm
nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày một đầy đủ
hơn. Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho
nhau, cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn
trung tín và đòi hỏi phải kết hợp với nhau bất khả phân ly» (MV 48).
Đó là lời khẳng định của Công đồng chung Vaticanô II về Hôn nhân
Công giáo. Qua đoạn văn trên, chúng ta thấy nổi bật hai đặc tính đó
là: Đơn hôn và Bất khả phân ly.
a- Đơn hôn
Đơn hôn hay còn gọi nhất phu nhất phụ là hôn nhân giữa một người nam
và một người nữ. Người nam không thể là chồng của người nữ nào
ngoài vợ mình; và người nữ cũng không thể là vợ của người nam nào
ngoài chồng mình. Đây là nét đặc thù của Hôn nhân Công giáo: Đơn hôn
là duy nhất, trung tín, không chia sẻ. Đặc tính này cũng đã ăn sâu vào văn
hoá Việt Nam ta, vì thế chúng ta có thể tìm thấy trong ca dao khuyên răn về
tính đơn hôn đó những câu như:
«Đói no một vợ một chồng,
Một nêu cơm tấm dầu lòng ăn chơi.
Đói thì ăn nắm lá sung,
Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng».
b- Bất khả phân ly
Một khi đã thề hứa yêu thương nhau trước bàn thờ Thiên Chúa với tất
cả tự do và tôn trọng qua Bí tích Hôn nhân, đôi tân hôn được liên kết
và đòi hỏi sự trung thủy yêu thương nhau cho đến trọn đời. «Khi người
nam và người nữ đã kết hôn thành sự và hợp pháp, họ phải trung thủy
với nhau trọn đời» (MV 20). Từ đó, không ai có thể tháo gỡ giây hôn
nhân đó, dù là quyền lực dân sự hay tôn giáo. Nói tóm lại, đặc tính
Bất khả phân ly mang tính cách vĩnh viễn, không ly dị: «Sự gì Thiên
Chúa liên kết, loài người không thể phân ly».
Hai đặc tính trên của Hôn nhân Công giáo được bắt nguồn từ ý định
muôn đời của Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng đã nhắc lại ý định đó
khi trả lời câu hỏi của nhóm Biệt phái: «Các ông lại không đọc: từ
khởi nguyên, Thiên Chúa đã dựng nên người nam và người nữ sao? Và
Ngài phán: Bởi thế, đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mình và khăng khít với vợ,
và cả hai sẽ nên một thân xác. Cho nên họ không còn là hai mà là một
thân xác» (Mt 19, 3-5); và khi những người Biệt phái hỏi Chúa Giêsu tại
sao luật Môisen lại cho ly dị thì Ngài lại khẳng định về tính Bất cả
phân ly của Hôn nhân: «Tại các ông chai đá cứng lòng, nên ông Môisen cho
phép bỏ vợ, chứ từ đầu không có như vậy» (Mt. 19,8).
4- Lời kết
Hai đặc tính: đơn hôn và bất khả phân ly của Hôn nhân Công giáo được
thiết lập mô phỏng tình yêu của giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, một tình
yêu không chia sẻ và bền vững đến muôn đời. Chính nhờ sự mô phỏng
này và qua Bí tích, Hôn nhân Công giáo được ban tặng một nhân phẩm cao
quí nhất: Tình yêu vợ chồng được sánh ví với tình yêu giữa Chúa
Kitô và Giáo Hội. Và chính vì thế mà thánh Phalô tông đồ đã viết:
«Bí tích này quả thật cao quí đây tôi nói về Chúa Kitô và Hội thánh»
Ep 5,32.
---------------------
Chú thích
Những tài liệu về Hôn nhân:
1- Gaudium et Spes, Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay
của Công Đồng Vaticanô II, ban hành ngày 7.12.1965 (Viết tắt: GS).
2- Humanae Vitae, Thông điệp ”Về sự sống con người” của ĐTC Phaolô
VI, ban hành ngày 25.7.1968 (viết tắt: HV).
3- Familiaris Consortio, Tông Huấn về gia đình, của ĐTC Gioan-Phaolô II, ban
hành ngày ngày 22.7.1982 (viết tắt: FC).
4- Donum Vitae, Huấn thị của Thánh Bộ Đức Tin do HY Joseph Ratzinger ký ngày
22.2.1987 (viết tắt: DV).
5- Mulieris dignitatem, Tông thư về phẩm giá phụ nữ, của ĐTC Gioan-Phaolô
II, ban hành ngày 15.8.1988 (viết tắt: MD)
6- Thư của ĐTC Gioan-Phaolô II gởi các gia đình nhân dịp năm quốc tế gia
đình, ban hành ngày 2.2.1995 n
YẾU TỐ XÂY DỰNG HẠNH PHÚC HÔN NHÂN
Là con người bình thường, ai cũng mong được yêu và yêu, và những ai
đang yêu đều mong muốn được dành trọn cuộc đời mình cho tình yêu.
Chúng ta mong muốn cho tình yêu đó không chỉ là cảm nghiệm để rồi như
một «hương vị» thoáng trôi qua, nhưng là một thực tế cảm nghiệm niềm
vui và sự hứng khởi sâu đậm trong tâm hồn. Tình yêu đó sẽ được phát
triển vượt thời gian và tồn tại mãi mãi qua những thăng trầm đổi
thay của cuộc sống.
Nhưng tiếc thay, trong thực tế muốn có được tình yêu không những sẽ
không phai nhòa theo thời gian, nhưng phát triển không ngừng và luôn tạo ra
những nét mới mẻ mặn nồng… chúng ta phải tìm cách xây dựng cũng như
hy sinh và đảm bảo cho tình yêu đó luôn luôn là một động lực thu hút
người yêu trong tin tưởng và tôn trọng. Sau đây chúng ta cùng nhau tìm hiểu
một số yếu tố có thể xây dựng cho một tình yêu hôn nhân bền vững.
1- Chữ «yêu», một chữ không thể thiếu
Trong số những từ ngữ được nhắc đi nhắc lại từ lúc «tạo thiên lập
địa» đến nay, qua mọi thứ tiếng và mọi nền văn hóa của loài người,
để xây dựng cuộc sống văn minh xã hội cũng như làm phong phú tương
quan giữa con người với con người… có lẽ không có chữ nào lại nặng
nghĩa bằng chữ: yêu.
Ai trong chúng ta cũng cảm nghiệm được rằng: chữ yêu thường có một động
lực quyến rũ kỳ diệu. Tình yêu là yếu tố duy nhất mà con người không
thể thiếu được. Chúng ta nhận biết điều này qua mỗi hơi thở, mỗi
nhịp đập của trái tim. Thật vậy, chữ yêu luôn luôn là mục đích cao cả
nhất, là phạm vi hoạt động cao vời nhất, là mục tiêu tìm kiếm say mê
nhất của con người.
Sống giữa một thế giới đầy dẫy những «đảo lộn giá trị» của cuộc
sống,… chữ yêu là chữ mà chúng ta phải nắm giữ cho bằng được. Bởi
vì chỉ tình yêu mới có thể làm cho tâm hồn con người giữ được sự
thanh thản, thậm chí ngay cả những lúc tăm tối nhất, chỉ tình yêu mới
có thể đưa tâm hồn đến trạng thái an bình sau những nhọc nhằn căng
thẳng của cuộc sống! Tình yêu phải là yếu tố duy nhất hành trình với
con người trong cuộc sống.
Chúng ta đều biết, mọi điều chúng ta có thể chiếm được như: nhân
cách, danh vọng, tiền tài, bạn bè, cha mẹ, anh em... tất cả rồi sẽ qua
đi, nhưng chỉ có Tình yêu là nguồn ánh sáng tươi đẹp nhất sẽ tồn tại
mãi mãi. Bởi vì chính nhờ Tình yêu mà chúng ta hiện hữu, và cũng chính
Tình yêu sẽ chờ đón chúng ta để cùng chúng ta bước qua ngưỡng cửa cuộc
đời.
2- Tâm điểm của Tình yêu
Tình yêu mà chúng ta cảm nghiệm, tình yêu mà chúng ta cần đến, tình yêu
mà chúng ta trao tặng được bắt nguồn bởi một «Tình Yêu» cao cả.
Tình Yêu này là nền tảng của tất cả, là niềm hạnh phúc cũng như bản
chất của con người.
Tất cả mọi cảm nghiệm và hành động của con người đối với nhau; tình
yêu của những đôi tình nhân, rồi đưa tới tình yêu vợ chồng, tình
yêu của cha mẹ đối với con cái, tình thương giữa anh chị em trong gia đình
với nhau, lòng quí mến giữa những người thân thiết, và cảm nghiệm
chia sẻ với những người xa lạ… đều bắt nguồn một Tình Yêu vô hạn:
Người yêu chúng ta đến độ thí mạng sống mình vì chúng ta, người đó
chính là Đức Giêsu Kitô. Người đã kêu gọi chúng ta bằng lời trìu mến
«Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con». Tất cả mọi
thứ tình yêu mà chúng ta sống cũng như cảm nghiệm được trong đời sống
đều phản ảnh hay thu nhỏ lại Tình Yêu kỳ diệu và bao la đó. Bởi vì
«Thiên hạ sẽ nhận ra các con là môn đệ Thầy nếu chúng con có lòng thương
yêu nhau». Phải chăng đó là những dấu chỉ chúng ta đang đáp lại Tình
Yêu cao siêu của Thiên Chúa! Từ đó, mỗi lần yêu, mỗi lần được yêu
chúng ta có thể khám phá ra mối quan hệ của chúng ta với Tình Yêu vô
biên và vĩ đại đó. Từ những giây phút đó, tự đáy lòng và từ trái
tim rộng mở chúng ta có thể khám phá ra mình đang cần tham dự vào nguồn
mạch Tình Yêu đó! Vì chính là «Tâm điểm» của mọi thứ tình yêu.
3- Sống phút giây hiện tại
Dù chỉ là một giây phút, một ngày, một mối quan hệ đơn sơ… và toàn
bộ cuộc sống… tất cả đều thấm thía, tất cả đều linh thiêng, tất
cả đều mang một ý nghĩa, tất cả đều «độc nhất vô nhị». Sẽ
không có giây phút nào có thể thay thế được, không mối tương quan nào
lặp lại được! Sẽ không có tình yêu nào, không có người nào có thể
giống người yêu của bạn, sẽ không có tình yêu nào giống tình yêu
này.
Cuộc sống mà chúng ta đang sống, tình yêu mà bạn đang cảm nghiệm, dù
chỉ là một phút giây, chưa một ai đã sống, cũng như không một ai sẽ cảm
nghiệm vào chỗ của bạn! Những gì mà bạn đang có: cha mẹ, anh em, người
yêu và bạn bè... mỗi người đều là một cá thể riêng biệt, không ai
có thể thay thế được ai. Bạn không thể trốn tránh và tìm ai khác để
sống cuộc sống của bạn, chỉ còn lại cách duy nhất là bạn lựa chọn
để sống. Đó là cách mà bạn hãy sống qua từng giây phút, chu toàn bổn
phận của bạn, và bạn hãy sống bằng tất cả nhiệt huyết, bạn yêu bằng
tất cả con tim, cảm nghiệm tất cả bằng Tình Yêu.
Hãy sống từng giây phút hiện tại bằng tất cả tâm hồn và trái tim. Đừng
quá hối tiếc về quá khứ, bởi vì bạn sẽ không bao giờ có thể lấy lại
được những gì đã mất! Bạn cũng không cần phải quá mơ mộng về
tương lai xa vời. Vì bạn nên nhớ rằng tương lai của bạn đang được
thực hiện bằng phút giây hiện tại.
4- Yêu là cùng nhau chia sẻ
Khi có được những giây phút bên nhau một cách đầy cảm xúc, chúng ta thường
cho rằng đó là sự hiểu nhau, đồng cảm với nhau trong những lúc vui cũng
như những lúc buồn. Điều không thể chối cãi đó là trong những phút
giây đau khổ ai trong chúng ta cũng có nhu cầu cần sự đồng cảm của
người khác đối với mình; nhưng chúng ta cũng cần có người để chia sẻ
với mình trong những lúc vui tươi và hạnh phúc.
Hân hoan là cảm giác vui tươi, phấn khởi, hài lòng với cuộc sống. Hạnh
phúc hân hoan đó, ai trong chúng ta cũng cần đến trong cuộc sống. Nhất là
trong thế giới hôm nay, cuộc sống vốn đã quá nhiều những nhọc nhằn,
và nhiều lúc cảm thấy đường đời chúng ta đang gặp muôn vàn những
khó khăn. Từ đó, chúng ta mới cảm nghiệm thực sự niềm vui mới chính
là trạng thái đích thực của cuộc đời; chúng ta cần có sự phấn khởi,
bởi vì cuộc đời này thiếu vắng niềm vui đích thực. Chúng ta cần sự
chia sẻ xum vầy với nhau, vì trong thế giới này con người thường chỉ
biết quan tâm đến bản thân riêng của mình, cũng như không ngừng cạnh
tranh với nhau. Thật khó khi tìm được một tâm hồn đồng cảm để cùng
nhau chia sẻ niềm,vui nỗi buồn!
Trong thế giới hiện nay, nhiều người cảm thấy quá thất vọng với cuộc
sống riêng của mình về mối quan hệ bạn bè cũng như công việc trong sở
làm, đối với những người có trách nhiệm. Vì thế, thay vì chia sẻ và
biết chia vui với người khác, họ tự khép kín và cảm thấy ghen tị, hoặc
tự ái; nhiều khi họ cho mình là «nạn nhân» của những người có trách
nhiệm trong hãng xưởng. Thật vậy, trừ khi bạn biết nhìn cuộc sống với
con mắt lạc quan và cảm nhận ra niềm vui của mình, bằng không bạn khó
cảm thấy vui tươi ngay cả những lúc bên cạnh người yêu của mình.
Như vậy, để có niềm vui cho chính bạn và cho người bạn yêu, bạn cần
có những thời gian chia sẻ với người mình yêu những nỗi vui cũng như
những băn khoăn của cuộc sống, và thực sự đón nhận niềm vui của người
khác. Làm thế, niềm vui của bạn sẽ tăng gấp đôi, nhờ đó bạn có thể
tạo điều kiện cho mình niềm vui ngay chính cuộc sống riêng của bạn, đón
nhận niềm vui đó và làm nó trở thành ánh sáng soi đường cho cuộc sống
bạn. Bạn hãy bằng lòng với những công việc của chính bạn, vui mừng với
những thành quả đạt được. Như vậy bạn đang thực sự chuẩn bị niềm
vui và sẵn sàng chia sẻ tất cả với người mà bạn yêu.
Cùng nhau vui sống là cùng nhau chia sẻ và hòa nhập hơi thở trong niềm
vui, là luôn ở bên nhau những giây phút đẹp đẽ, hạnh phúc, thành công.
Với tâm trạng ”cùng nhau vui sống”, bạn sẽ tổ chức cho nhau những
ngày đặc biệt đáng ghi nhớ: gặp gỡ nhau lần đầu, ngày thành hôn,
sinh nhật, ngày lễ liên quan tới mỗi người... Vì tình yêu là một vật
quí cần phải săn sóc. n
THẮC MẮC
Sau đây là một số thắc mắc của quí độc giả về hai câu hỏi:
1- Tại sao Hôn Nhân Công Giáo không được ly dị?
2- Theo bạn, điều gì là căn bản của hôn nhân Công giáo.
Thư của Tín An, Pháp:
Thưa cha, điều căn bản của hôn nhân Công giáo là sống yêu nhau trong một
tình yêu không vị lợi, sẵn sàng hy sinh cho nhau đến trọn đời vì tính
”Bất khả phân ly”. Câu hỏi: điều gì là căn bản của hôn nhân Công
giáo con thấy nó quá rộng. Bởi vì có nhiều yếu tố là căn bản đem lại
hạnh phúc cho cuộc sống hôn nhân. Nói về lý thuyết: yêu nhau, hy sinh cho
nhau đến trọn đời thì rất dễ, nhưng trên thực tế thì lại là rất
khó. Chẳng hạn, chúng con thành hôn với nhau theo Bí tích hôn nhân đã hơn
mười năm rồi, những năm đầu chúng con rất hạnh phúc... nhưng mỗi ngày
sự hạnh phúc đó nó càng sụt đi. Càng ngày ” bà xã con” càng chê con.
Bất cứ công việc gì cũng không làm cho nàng hài lòng... thực sự thì con
đâu có ”vụng về quá đâu”. Lý do tại sao con không hiểu. Xin cha cho lời
chỉ dẫn.
Anh Tín An mến,
Anh nói đúng, những yếu tố căn bản của hôn nhân Công giáo để đem lại
hạnh phúc rất là rộng. Tuy không dám ”chỉ dẫn” anh, nhưng trong thắc
mắc của anh tôi thấy điều căn bản đó là ”bà xã” của anh có thể
tiết kiệm lời khen ngợi quá hy vọng chị tiết kiệm được như vậy mỗi
khi vào tiệm nước hoa và những Shop thời trang!
Như anh biết, tất cả mọi người, dù là những người xa lạ, đều có
những tính cách và hành động đáng được khen ngợi. Nếu chúng ta để một
vài giây phút để quan sát những người chung quanh, chúng ta có thể nghe,
nhận ra, nghe thấy hay cảm giác được những cử chỉ, lời nói thật tinh
tế đẹp đẽ đáng khen ngợi. Đó là những giá trị về con người.
Vậy đối với những người thân quen, nhất là đối với vợ hoặc chồng,
một người mà bạn đã chọn lựa để hết lòng quí trọng, yêu thương và
vui sống bên nhau suốt cả đời, người đó hẳn còn xứng đáng đón nhận
những lời khen ngợi, cảm phục và biết ơn biết bao?
Nên ý thức rằng những lời khen ngợi chân thành đem lại cho người yêu
mình niềm hân hoan vui sướng biết bao. Nhưng thật đáng tiếc trong cuộc sống
hằng ngày, dù không phải là coi thường nhau, chúng ta không nhìn thấy hoặc
quên sót những lời khen ngợi nhẹ nhàng. Vì đừng quên rằng, lời khen ngợi
là hơi thở cần thiết nuôi dưỡng hạnh phúc tình yêu gia đình.
Thật vậy, lời khen ngợi giúp cho trái tim người được khen mở rộng, quên
đi ích kỷ và làm cho tâm hồn một niềm tự tin, an vui kỳ diệu. Nhờ đó,
lời khen ngợi còn xây dựng và củng cố thái độ sống của người được
khen. Vì được trân trọng nên họ cũng có thái độ sống tích cực và
trân trọng người khác...
Như vậy, nếu muốn có sự trung tín và yêu thương không giả dối, tạo
cho mình một cảm giác yêu và đang được yêu với tình yêu lâu bền, bạn
đừng nên tiết kiệm lời khen. Nhưng trong lời khen ngợi đó, bạn luôn sẵn
sàng làm với một tích cách chân thành, đúng đắn, phù hợp và hào
phóng. «Nên tiếp kiệm tiền bạc chứ đừng tiết kiệm lời khen ngợi».
Thư của anh May Mắn, Đức
Thưa cha, trước đây con không được may mắn cho lắm, vì mãi tới năm 42
tuổi con mới tìm được «Công chúa trong mộng». Trước đây con cứ nghĩ
câu ca dao «tu là cõi phúc tình là dây oan». Nhưng thực sự từ ba năm nay,
khi con có gia đình con cảm thấy thật là hạnh phúc. Vì chúng con cảm nhận
là tình yêu chân thật, cảm nghiệm có Thiên Chúa hiện diện giúp đỡ chúng
con mỗi ngày, nhất là gia đình chúng Chúa thương lại cho thêm người thứ
ba nữa. Đối với chúng con, điều căn bản cho hạnh phúc của Hôn nhân
Công giáo là tin rằng có Thiên Chúa hiện diện trong gia đình. Vì thế,
câu «Tu là cõi phúc tình là dây oan» không còn ý nghĩa với con nữa,
nhưng con cũng mong được biết tại sao lại có câu đó? Mong sự trả lời
của quí cha.
Anh May Mắn mến,
Trước kia tôi cũng nghĩ như anh nên đã đi tu đấy, nhưng dần tôi đã
khám phá ra ý nghĩ đích thực của ơn gọi trước khi dấn thân thực sự
(đối với cảm nghĩ của tôi...). Thành thật đa tạ anh những lời chia sẻ
chân thành và căn bản.
«Tu là cõi phúc tình là dây oan» của thi hào Nguyễn Du. Thực sự ông đã
tóm lược một cách thâm túy tư tưởng của Tam Giáo, (Khổng giáo, Lão
Giáo và Phật giáo). Tuy nhiên tư tưởng chính yếu của Phật giáo về
tình yêu được trình bầy trong «Tứ Diệu Đế» nghĩa là bốn chân lý
nhiệm mầu, mà Đức Phật đã giác ngộ sau khi thiền luyện dưới gốc Cây
Bồ Đề. Bốn chân lý đó là:
1- Khổ đế: đời là bể khổ.
2- Tập đế: nguồn gốc của đau khổ là ham muốn.
3- Diệt đế: muốn diệt khổ phải thắng được ham muốn.
4- Đạo đế: con đường để thắng sự ham muốn là con đường tu, vui với
tiếng kinh lời cầu, là chiêm niệm, từ bi, thờ ơ với cuộc sống trần
ai để ra khỏi vòng luân hồi của cõi «vô thường», tới được nát
bàn là nơi thinh không thanh tịnh không còn ham muốn.
Chữ «Ái» nghĩa là «yêu» được xếp vào «Thập nhị nhân duyên» là một
trong mười hai sự ham muốn lôi cuốn con người vào vòng luân hồi của
cõi «vô thường».
Chữ tình trong câu thơ này có nghĩa là sự lưu luyến nam nữ muốn được
kết tóc se tơ. Tình là dây oan, vì tình là một ham muốn mãnh liệt trói
buộc con người vào đau khổ như sợi dây oan nghiệt của cuộc sống trần
ải.
Tu là cõi phúc có nghĩa là: chỉ có con đường tu, xa lánh trần tục vui với
câu kinh tiếng kệ nuôi tâm dưỡng tính, mới có thể giải thoát khỏi
dây oan nghiệt của chữ tình để tới cõi phúc là nát bàn. Tuy nhiên đó
là tư tưởng và lối quan niệm xưa... ngày nay người ta không còn chấp nhận
lối suy nghĩ đó nữa, nhưng ai cũng phải thừa nhận rằng dù «tu Chùa hay
tu tại gia» thì chữ yêu vẫn là trọng tâm của cuộc sống.
Nói tóm lại, đối với người Công giáo ơn gọi trong đấng bậc gia đình
hay tu trì đều là đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa. Mỗi ơn gọi
đều có nét đẹp, nét nhiệm mầu của nó; điều quan trọng là chúng ta
dám đáp lại lời mời gọi đó bằng cả tâm hồn và trái tim để đạt
tới ơn gọi chung của con người đó là: những người con đáng yêu quí của
Thiên Chúa, cảm nghiệm được sự hạnh phúc thực sự trong Tình Yêu của
Ngài ở đời này và hướng về cõi phúc trường sinh. (Phỏng theo Vân
Uyên)
Lm. Phạm Đức Trị OMI