VietCatholic News
Tông huấn về "Ðời sống gia đình", số 10, có ghi:
"Xưa nay Giáo hội vẫn có truyền thống đón nhận từ các nền văn hóa của các dân tộc những gì thích hợp nhất để làm nổi bật những vẻ đẹp phong phú và vô tận của Ðức Ki-tô... Giáo hội mong muốn sự hội nhập văn hóa được thực hiện ngày càng rộng rãi hơn, ngay cả trong lãnh vực hôn nhân và gia đình."
Tông huấn "Giáo hội tại châu
Á" nhận định:
" Người dân Á châu rất tự hào về các giá trị tôn
giáo và văn hóa của mình, như yêu mến sự thinh lặng và chiêm niệm, sống
giản dị, hòa hợp, từ bỏ, bất bạo động, làm việc chăm chỉ, có kỷ luật,
sống thanh đạm, ham học hỏi và truy tầm triết lý.
Người Á châu rất yêu chuộng các giá trị như: tôn trọng sự sống,
từ bi với mọi loài, gần gũi thiên nhiên, hiếu thảo với cha mẹ, tôn kính
người cao tuổi và tổ tiên, ý thức sâu sắc về cộng đoàn. Cách riêng, họ
coi gia đình là nguồn sức mạnh sinh tử, là một cộng đoàn liên kết chặt chẽ
và có ý thức liên đới cao" (số 6).
Ðó là lý do khiến chúng ta đi tìm những nét đẹp truyền thống trong hôn
nhân và gia đình Á châu và Việt Nam.
I. NHỮNG NÉT ÐẸP TRONG TÍNH TÌNH.
Những nét đẹp trong truyền thống Á Ðông được Tông Huấn ghi nhận:
1. "Tôn trọng sự sống, từ bi với mọi loài, gần gũi thiên nhiên".
Ðời sống người Châu Á gắn liền với nền văn hoá nông nghiệp do môi trường
sống của người Phương Ðông là xứ nóng có nhiều mưa (ấm), có nhiều sông
lớn và nhiều đồng bằng trù phú. Khí hậu ôn hoà thuận tiện cho việc trồng
cấy, tạo nên đời sống định cư. Người dân Châu Á gắn liền với nông
nghiệp, mà nông nghiệp ngày xưa cậy nhờ nhiều vào thiên nhiên, mưa nắng
điều hoà, cho nên tính cách của người Á Châu cũng gần gũi và tôn trọng
thiên nhiên, nếu phản bội với thiên nhiên cũng là phản bội với những gì
đã nuôi sống mình, đó không phải là tính cách của người Châu Á.
2. Tôn trọng sự sống. Người Việt tin rằng người ta sống ở đời đều có số
cả, ai sống ác thì gặp trái ác, ở hiền thì gặp lành. Quan niệm như thế,
thành hay bại đều do trời, cho nên không sinh lòng thù oán, không ghen tức,
tôn trọng sự sống dù là tàn tật, dù là xấu xí. Mỗi người có một phần số
và họ cần yêu thương đùm bọc nhau mà sống: "Lá lành đùm lá
rách", lấy nhân nghĩa để được nhân nghĩa là vậy.
3. Tính cộng đồng. Do điều kiện nông nghiệp gắn liền với lúa nước, theo
mùa, theo vụ, họ cần có một số đông lao động để thu hoạch hay trồng cấy,
nên số đông ấy được gắn bó với nhau trước mắt là để sống, thứ đến
để sống lâu dài với nhau được nên trọng tình hơn lý: "lấy
chín bỏ làm mười" làm nguyên tắc ứng xử .
4. Tinh thần hiếu đạo: Hiếu trở thành đạo, cho thấy tình cảm gia đình
người Việt là cao quý.
5. Cầu tự: Trong ý niệm : "Không con là bất hiếu" của Khổng giáo,
người Việt Nam còn pha chút quan niệm không con là quả báo, chính vì vậy gia
đình nào cũng mong có con cháu nhiều như là mối phúc. Người ta đi lễ bái,
cầu tự, để tránh tiếng chê cười cuả hàng xóm cho là bất hạnh khi không có
con. Người con trong gia đình Việt Nam là điều kiện cho cuộc sống, là điều
kiện cho hạnh phúc, ra đường người ta thường hỏi nhau: "mấy cháu
rồi" là thế.
Cái thú của một gia đình xưa là có tiếng khóc, tiếng nô đùa của con trẻ,
tiếng ho của ông, tiếng giã trầu của bà, giọng nói của cha, tiếng ru của
người mẹ, những tiếng ấy đan quyện làm nên mái ấm gia đình.
II. Giá trị tôn giáo và văn hoá của người dân Việt.
Người Việt rất đáng tự hào hơn ngàn năm chịu sự đô hộ của Trung Hoa mà
không trở thành Trung Hoa, bởi mang trong mình nét đặc thù của người đất
Việt. Thời nhà Lý, Nho Giáo ảnh hưởng nhiều, nhưng qua đất Việt lại mang
sắc thái Việt Nho thời Lý, đó là cái thời mà cha ông, Bắc dẹp Tống, Nam
bình Chiêm, cái thời mà cha ông xây dựng một sắc thái văn hoá đặc sắc.
Ðó là bài học hay nhất cho việc hội nhập văn hoá mà ngày nay nói tới.
Việc thờ kính tổ tiên mang đậm nét sắc Việt hơn cả, người Trung Hoa cũng
có nhưng không trang trọng bằng người Việt, hiếu trở thành đạo. Bàn thờ tổ
tiên đặt chính giữa nhà, vào nơi trang trọng nhất của căn nhà, là nơi tổ
tiên chứng kiến những niềm vui nỗi buồn của một giòng họ từ đời nọ sang
đời kia, ấm áp trong khói hương, tưng bừng và thanh khiết trong màu hoa, chén
nuớc của con cháu mỗi ngày tưởng nhớ.
Chính ở bàn thờ gia tiên mà người Việt ý thức về tôn ti trật tự của
người sống lẫn người chết, mà khác hẳn với người Trung Hoa. Nói chuyện với
ông bà thì xưng cháu, nói chuyện với cha mẹ thì xưng con, nói với anh chị
thì xưng em. Nói với người ngoài tuỳ mức kính trọng mà xưng ông bà chú
bác hoặc anh hoặc em. Xem mọi người như cùng một giòng họ huyết thống, lấy
huyết thống làm nguyên tắc xưng hô thì cũng lấy tình thương làm nguyên tắc
ứng xử. Ðó chẳng phải là một đặc trưng của nền văn hoá đất Việt sao?
Ðối với những người con trong gia đình thì xem đó như một điều kiện cho
cuộc sống, là tiêu chuẩn cho một gia đình hạnh phúc, người Việt cũng chẳng
bao giờ muốn ức hiếp con trẻ, đàn áp quyền con người của chúng. Giàu hay
nghèo gia đình nào cũng mong mỏi thấy con cái mình học hành nên người và
sống có ích cho xã hội. Ðó là những gì người Việt mong mỏi lấy phúc để
lại cho con cháu. Người con thành đạt thì cha mẹ được tôn vinh, bởi công
phúc của cha mẹ con cháu mới được như vậy. Sự tôn vinh của người con đối
với cha mẹ là nét đẹp của hiếu đạo, và cũng là tấm gương sáng cho nhiều
người, cho nên người thành đạt "vinh quy bái tổ" cũng là diễn tả
tâm tình ấy.
Quan niệm phúc đức, có từ thời Hồng Bàng, ăn sâu trong cội rễ Việt, chứ
không hẳn là ảnh hưởng thuyết luân hồi của Phật Giáo, cũng chẳng hẳn là
ảnh hưởng của Khổng Giáo, chẳng qua Khổng giáo lấy : Nhân, lễ, nghĩa, trí,
tín, để đặt chữ đức cho người noi theo và cũng như Phật Giáo dậy luật
nhân quả phù hợp với tinh thần sẵn có của người Việt mà dễ dung nạp vào
tâm hồn người Việt.
Nói riêng là như vậy, nhìn chung trong bối cảnh của môi trường văn hoá nông
nghiệp, chúng ta thấy đó là giá trị chung của người Á Châu. Nông nghiệp
vốn nghèo khó, cuộc sống thanh bần, hết vụ mùa là thời kỳ thanh thản đợi
vụ mùa kế tiếp, các yếu tố của văn minh lúa nước hình thành nên các giá
trị văn hoá và tôn giáo tại Á Châu, lấy đạo Nhân làm gốc, có sống được
với nhau, họ mới sống được với Trời.
III. Những Nét Ðẹp Trong Việc Kết Hôn Và Trong Ðời Sống Gia Ðình Truyền
Thống.
Ðã có thời người ta chê trách rằng việc hôn nhân chịu quá nhiều ảnh
hưởng của gia đình đưa đến chỗ không được tự do tìm hiểu người khác
phái, bị ép buộc lấy người mình không yêu, về nhà chồng phải chịu đủ mùi
cay đắng, trở thành cái máy đẻ cho nhà chồng, suốt đời làm "thân cò
lặn lội"...
Những trường hợp này không phải là không có, nhưng không phải là
luật chung. Trong thực tế, truyền thống Việt Nam có nhiều tự do hơn trong việc
chọn lựa cũng có ý kiến trực tiếp hay gián tiếp của đương sự. Các đôi
nam nữ biết nhau, có thể làm quen với nhau cách lành mạnh, có sự cố vấn khôn
ngoan và đầy tình thương của người lớn. Sự hướng dẫn của người già nhắm
tới các mục đích này mà lưu giữ truyền thống:
1. Con đàn cháu giống. Nhắm tới một hậu duệ khôn ngoan và mạnh khoẻ, người
Việt xưa đi từ kinh nghiệm hạt lúa giống gieo xạ cho vụ mùa đến cái thực
tế của việc gây dựng hâu duệ. Kinh nghiệm nhà nông cho thấy hạt giống tốt
cho nhiều hạt, ít sâu bệnh, từ đó dẫn đến việc "môn
đăng hộ đối" cho các cặp trai gái đến hôn nhân.
Như vậy, ngày xưa các cụ đã biết đến hiện tượng di truyền, cha
mẹ hung ác không thể tạo nên đứa con hiền lành, dễ thương, ít nhiều cũng
lây nhiễm sự độc ác của cha mẹ chúng. Người xưa thường nói: "cây nào sinh trái ấy", cho nên việc hôn nhân là
hệ trọng cho cả đời người và cho cả giòng họ nữa.
2. Chữ trinh, lòng thanh sạch đáng giá ngàn vàng. Chữ trinh ngày xưa hiểu một
cách thanh tao và cao thượng hơn bây giờ. Ngày xưa, gọi là đất văn hiến
thì mẫu người ngự trong tâm hồn dân Việt là mẫu người thanh cao, vượt xa
được dục vọng. Người ta vẫn còn quý mến những người sống trinh khiết độc
thân, đó là dấu chứng của nền văn hoá ấy còn lại. Chính vì coi trọng sự
thanh sạch mà những đôi hôn nhân xưa kia đã sống cuộc đời biết tôn trọng,
yêu thương và đi cho tới đầu bạc răng long.
Như vợ chồng cụ Phan Bội Châu, gần năm mươi năm sống đời hôn
nhân, mà đã tới gần bốn mươi năm cô phòng lẻ bóng. Sau hơn hai mươi năm
có lần gặp lại nhau ở xứ Nghệ, người vợ tha thiết ước mong:
"vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay
được một lần gặp mặt thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi. Từ đây trở
về sau, chỉ mong cho thầy giữ được lòng xưa, thầy làm những gì mặc thầy,
thầy chớ nghĩ tới việc vợ con."
Lòng người phụ nữ Việt Nam đẹp
là thế, hy sinh cả một đời cho chồng cho con; lòng người chồng cũng không
kém vì dân vì nước hy sinh chính cuộc đời trai trẻ của mình và vẫn giữ
khí tiết thanh cao. Người xưa họ không chỉ giữ cho mình nhưng còn giữ cho cả
gia phong, cho cả quốc thể, sĩ diện của bộ mặt dân tộc.
3. Tình nghĩa phu thê: Ðó là hệ thống tình cảm đặc biệt của người Việt
Nam, khi đã yêu nhau người ta yêu cả đường đi lối về. Người ta đã yêu
nhau, hy sinh cho nhau một cách đến vô lý mà chẳng ai có thể ngờ được. Cũng
chẳng phải là do luân lý quân quyền, phụ quyền hay phong kiến gì hết mà chỉ
là do trái tim mà thôi. Khi yêu thương người ta có cả ngàn cách để tỏ bày
tình yêu thương đó, tình yêu được lọc qua những vị kỷ để chỉ còn vị
tha, vị tha cho đến nỗi quên mất cả chính mình. Có những người đã nguỵên
ở vậy cho đến suốt đời để "thờ chồng nuôi con" hay chấp nhận cảnh
ngộ "gà trống nuôi con", lòng vị tha như thế chẳng là quên mất
chính mình sao?
4. Chịu cực để hy sinh cho con: Người ta sánh ví ví von "cá chuối chết
đuối vì con" không phải chỉ là sánh ví nhưng đó là sự thực của những
người làm cha làm mẹ dành cho con cái. Có dân tộc nào mà được như vậy
chăng?. Theo luật phong thuỷ, người ta vẫn kể lại là gặp ngôi đất tốt,
người con phải khắc với cha mẹ mới mở mắt lên được, có đức hy sinh nào
cho đến chết mà vẫn một lòng hy sinh cho con cái, để con cái ăn nên làm ra
không?
5. Ðức hy sinh cho dòng họ. Vợ chồng có giận nhau, cũng đóng cửa mà dậy
nhau, không ai mang chuyện nhà ra cho mọi người biết, ấy cũng là cái đức hy
sinh cho giòng họ, cái đức ấy còn giữ thanh danh cho nhau, tôn trọng phẩm giá
của nhau nữa. Nhiều người ở vậy nuôi con, quanh năm ăn nhịn để dành lo
đóng góp cho việc dân việc nước mà giữ giá trị cho giòng họ, như truyện
bà mẹ của ông Tán Cao làm mẫu gương.
6. Chịu đựng để sống còn. Người Việt xưa không chỉ nghĩ cho sự sống của
mình mà thôi còn nghĩ đến sự sống còn của cả giống nòi của cả giòng tộc.
Chuyện của ông Tán Cao là một điển hình: Ông Tán Cao là phụ tá của ông
Tổng Ðốc Hoàng Diệu giữ thành Hà Nội. Khi thành bị mất, ông Hoàng Diệu treo
cổ lên cây tự tử, ông Tán Cao xin hàng. Ông xin hàng để cứu lấy sinh linh
của những người lính và những người dân trong thành. Hy sinh cái thanh danh
của cá nhân, để cứu lấy anh em, vì đầu hàng xưa kia là nhục lắm. Khi đã
yên ổn đâu đấy cho anh em, cho nhân dân, ông mới lấy dao tự rạch bụng ngay
giữa bàn tiệc mà tự sát.
KẾT LUẬN
Nói chung thì tính tình, cách tổ chức xã hội trước đây, cũng như nếp sống
gia đình truyền thống tương đối thuận lợi cho đời sống hôn nhân và gia
đình. Chỉ khi nào người ta coi trọng các hình thức bên ngoài mà bỏ quên ý
nghĩa tốt đẹp bên trong thì mới đáng trách mà thôi.
Lm Giuse Hoàng Kim Toan