| Những ca khúc Giáng Sinh được ưa chuộng: Silent Night - Đêm Thánh vô cùng |
VietCatholic News (21/12/2002 )
SILENT NIGHT
Năm 1817 cha Joseph Mohr, lúc đó mới
25 tuổi, được bổ nhiệm làm linh mục phụ tá tại nhà thờ Thánh
Nicholas ở miền Oberndorf nước Áo. Cậu Mohr ngay từ lúc thiếu thời đã
say mê âm nhạc, đã được đặt phụ trách âm nhạc tại một nhà thờ nhỏ;
có lúc cậu đã sáng tác thơ và đặt lời cho các bài ca trong các nghi lễ
đặc biệt tại giáo đường. Khi trở thành linh mục cha Mohr làm việc
không biết mệt mỏi trong các công tác từ thiện phục vụ thanh thiếu
niên con các gia đình nghèo khó trong vùng.
Mùa đông năm 1818 cha Mohr đang tận lực sửa soạn cho xong thánh lễ giáng
sinh, một nghi lễ mà cha đã hoạch định trước cả tháng. Mọi thứ đều
đã xong xuôi, từ bài hát cho đến bài giảng. Nhưng lúc cha dọn dẹp
thánh đường mới khám ra một trở ngại tưởng không thể khắc phục
được: đó là chiếc phong cầm của nhà thờ bị hư. Nóng lòng, cha lui cui
hàng giờ đánh vật với hàng phím, bàn đạp của chiếc đàn, có lúc bò
cả ra phía sau để mong tìm ra chỗ hư hỏng. Bất chấp cả mọi khó nhọc
của cha, chiếc đàn vẫn nằm ỳ ra không lên tiếng, im lặng chẳng khác
cái im ắng của một đêm đông giá lạnh.
Nhận thấy không thể làm gì hơn được, vị linh mục ngừng lại và cầu
nguyện. Cha cầu xin Chúa cho cha có một giải pháp nào để đem được âm
nhạc đến với giáo dân trong một ngày lễ có ý nghĩa nhất trong năm. Có
lẽ cha đã tìm được đáp ứng cho lời cầu nguyện của cha phát sinh từ
những sự việc xảy ra cách đấy gần cả hai năm.
Năm 1816, lúc phục vụ tại một thánh đường tại Mariapfarr, cha Mohr đã
viết một bài thơ Giáng sinh. Bài thơ gồm 6 khổ, cha cảm hứng sáng tác
trên đuờng đi bộ từ nhà ông nội đến nhà thờ. Tuy có cho vài người
bạn bè xem bài thơ, nhưng cha chưa bcó giờ nghĩ đến chuyện phổ biến hoặc
có ý nghĩ đem ra phổ nhạc. Khi được đổi đến xứ đạo Oberndorf, cha
mang theo bài thơ cùng với số vật dụng ít ỏi của cha.
Tìm lại bài thơ “Still Nacht! Heilige Nacht!” trên bàn viết, cha đọc lại
lúc này hai năm sau ngày sáng tác. Tư trước đến nay, những vần thơ đó
dường như không mấy quan trọng với cha, nhưng lúc này đọc lại, cha thấy
dường như Chúa đã cho cha một tia sáng hy vọng. Bỏ bài thơ vào túi áo
cha vội vã ra khỏi nhà. Chỉ còn mấy giờ nữa là thánh lễ nửa đêm bắt
đầu, vị linh mục băng qua những đường phố đầy tuyết phủ.
Cũng vào buổi chiều hôm đó, Franz Gruber, nguời giáo viên làng 31 tuổi
đang co ro trong căn phòng nhỏ bên cạnh trường học. Mặc dầu đã theo học
phong cầm với giáo sư nổi tiếng Georg Hardobler, Gruber cũng chỉ chơi đàn
cho nhà thờ St. Nicholas nhỏ bé. Đang miên man với mấy nốt nhạc trên chiếc
đàn thì ông ngạc nhiên nghe tiềng gõ cửa và thấy cha Morh bước vào.
Ông nghĩ thầm giờ này thì cha đáng lẽ phải ở nhà thờ sửa soạn làm
lễ, giờ đâu rảnh mà dạo quanh thăm viếng bạn bè.
Sau câu chúc mừng giáng sinh vội vã, vị linh mục hối hả kéo ông giáo
làng tới chiếc bàn nhỏ trong phòng và ra dấu bảo ngồi cạnh mình. Bằng
giọng nói rõ ràng là nản chí, cha kể cho ông nghe nỗi khó khăn trước mặt.
Sau khi bảo Gruber rằng chiếc đàn không thể sửa được, cha liền đem bài
thơ ra và nói:
- Franz, anh xem có thể viết nhạc cho bài thơ này để ca đoàn hát đuợc
không? Không có đàn thì ta chơi guitar vậy.
Rồi vị linh mục đưa mắt nhìn đồng hồ trên bàn, nói thêm: Không còn
nhiều giờ nữa đâu.
Đọc kỹ bài thơ, Gruber gật dầu. Anh mắt và nụ cười của ông chứng tỏ
ông chấp nhận thử thách đó. Tin tưởng là Chúa đã sắp đặt mọi sự,
cha Mohr vội vã băng qua những đường phố ngập tuyết trở về nhà thờ,
bỏ lại Gruber một mình ngồi đó với bcó nhiêu ý tưởng, trước một
chiếc đồng hồ đang tích tắc kêu và một lời cầu mong xin tìm ra hứng
khởi.
Mấy tiếng đồng hồ sau hai người gặp nhau tại nhà thờ. Trong ngôi
thánh đường có ánh đèn tỏa sáng, Gruber đưa cho vị linh mục coi bản nhạc
của mình. Linh mục chấp thuận, dùng đàn guitar gảy lên những nốt nhạc
rồi vội vã chuyển cho ca đoàn đang chờ đợi tập dượt. Công trình tưởng
chừng phải mất cả tuần lễ thì nay chỉ cần mấy tiếng đồng hồ là
xong. Không có nhiều thời giờ tập dượt, cha Mohr và Gruber chỉ dạy được
cho ca đoàn phần hòa âm bốn giọng của mỗi hai câu thơ cuối.
Trong thánh lễ nửa đêm, cha Mohr và Gruber đứng trước bàn thờ giới thiệu
bản nhạc nhỏ bé và giản dị của hai người. Họ đâu ngờ rằng “Still
Nacht! Heilige Nacht!” không chỉ sẽ được nhớ tới vào ngày Giáng sinh năm
sau trong ngôi làng bé nhỏ của họ mà còn được ca hát khắp thế giới gần
hai trăm năm sau nữa.
Mấy tuần lễ sau ngày tết dương lịch, anh chàng Karl Mauracher chuyên chế
tạo và sửa đàn phong cầm ngụ tại vùng thung lũng Ziller, đến nhà thờ
St. Nicholas để sửa đàn cho cha Mohr. Trong lúc anh chàng lui cui sửa chữa,
cha Mohr đem câu chuyện cha đã dùng đàn guitar để chơi một bản nhạc phổ
bài thơ cũ để cứu vãn đêm giáng sinh vừa qua. Cha hát cho anh chàng này
nghe bản nhạc đó, tin tưởng là Chúa đã nghe lời cha nguyện cầu. Thích
thú vì bản nhạc, anh chàng Karl lấy giấy ghi xuống bài ca và học thuộc
lòng các nốt nhạc. Những năm sau, theo với nghề nghiệp phải đi đây đi
đó, anh giới thiệu bản nhạc này với nhiều đô thị và thánh đường.
Vào thế kỷ 19, ở nước có và nước Đức có nhiều nhạc sĩ du ca. Mỗi
nhóm du ca thường gồm các thành viên trong cùng một gia đình thường không
chỉ hành nghề ca hát mà còn làm những việc chuyên biệt khác để có tiền
chi dụng trong lúc di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Năm 1832, nhóm du ca
thuộc gia đình Stasser xuất hiện tại một cộng đồng nhỏ nơi anh chàng
Mauracher đang ráp đặt một chiếc phong cầm. Trong thời gian ở đó, nhóm
du ca này học được bài “Still Nacht!”. Mấy tuần sau, tại một buổi
trình diễn tại Leipzig, nhóm du ca này trình bày bản “Still Natch!” trước
một đám thính giả rất đông đến coi hội chợ. Nhận thấy bản nhạc này
mang một sứ điệp tinh thần sâu xa, hoàng đế nước có William IV truyền
cho ca đoàn nhà thờ chính toà của ông ca bản nhạc này trong nghi lễ
giáng sinh hàng năm. Một phần cũng vì lòng ưu ái đó của nhà vua mà nhạc
bản này lan tràn ra khắp miền đông Âu rồi tràn qua Anh quốc.
Tháng 12 năm 1839 một nhóm du ca khác thuộc gia đình Rainer tới Nữu Ước.
Một phần chương trình của họ là trình bày bản “Still Natch!” bằng
Anh ngữ (Silent Night!) trước một cử tọa rất đông đảo tại thánh đường
Chúa Ba Ngôi. Bản nhạc trở thành phổ thông và được rất nhiều ca đoàn
hát trong các nhà thờ. Vào thời kỳ nội chiến ở Mỹ, bản nhạc “Silent
Night” trở thành bài ca giáng sinh phổ biến nhất. Trong trận chiến giữa
hai miền nam bắc, không hiếm thấy cảnh ngưng chiến 4 ngày trong dịp lễ
giáng sinh, binh sĩ giữa hai miền thù nghịch cùng buông súng, tụ họp lại
để dự lễ, đọc Thánh kinh, chia sẻ quà cáp, và cùng ca bài “Silent
Night”.
Bài hát càng được phổ biến thì nguồn gốc càng bị phân hoá. Có nhiều
lúc các nhà xuất bản gán cho tác giả bản nhạc này là một trong các nhạc
sĩ đại tài như Bach, Beethoven hoặc Handel. Chỉ mãi tới khi Franz Gruber gửi
tới các báo và các nhà xuất bản bản scó tờ phổ nhạc của mình thì
nguồn gốc đích thực mới được công nhận. Mặc dầu vậy, nhiều giai
thoại về lời ca của bản nhạc vẫn còn truyền tụng.
Cha Mohr qua đời trong cảnh nghèo khó vào năm 1848 trước khi được công nhận
là tác giả bài thơ đuợc phổ nhạc. Cha mất nên không thể chứng minh
câu chuyện, do đó mới có truyền thuyết kể rằng bài thơ đã đuợc viết
ra vội vã sau khi khám phá thấy rằng chuột đã cắn hại chiếc phong cầm
chứ không phải thực ra là chiếc đàn đã quá cũ và bị hư hại vì thời
tiết quá lạnh. Truyền thuyết này được nhiều người công nhận, thực
ra có vẻ tiểu thuyết hơn là sự thực.
Vào cuối thập niên 1800, bản “Silent Night” đã được phiên dịch ra khoảng
hơn 20 ngôn ngữ khác nhau và là nhạc bản không thể thiếu trong các lễ hội
giáng sinh trên khắp thế giới. Sang đến thế kỷ 20, nhạc bản này theo với
tập tục mừng giáng sinh, đã đi ra khỏi các giáo đường, nhập hội với
các tập tục giáng sinh khác.
Vào năm 1905 bản nhạc Silent Night được thu âm lần đầu tiên do ban nhạc
Haydn Quartet. Đó mới chỉ là khởi đầu, sau đó bản nhạc đã đuợc thâu
âm cả ngàn lần do các ban nhạc khác nhau trên khắp thế giới. Tới năm
1960, Silent Night đuợc công nhận là bản nhạc được ghi âm nhiều nhất
trong lịch sử âm nhạc.
Mặc dầu với tính cách phổ thông như vậy, trong tâm trí nhiều người, bản
Silent Night được viết ra lúc khởi đầu chỉ là một nhạc bản giản dị,
một khúc ngợi ca. Được sáng tác để làm cho nghi thức giáng sinh có ý
nghĩa hơn, bản nhạc cũ này vẫn còn mạnh mẽ và tươi mát như lần đầu
tiên được hát lên trong ngôi thánh đuợng nhỏ bé nơi nước Áo xa xôi.
Như một lời cầu xin được đáp ứng, Silent Night chỉ với mấy câu thơ
ngắn ngủi cũng đủ mô tả được câu chuyện giáng sinh của đấng cứu
thế trong máng cỏ nghèo nàn.
Phạm Hoàng Nghị
(viết theo Ace Collins)
Ghi chú:
Bản nhạc này đã được “Việt hoá“ từ hơn nửa thế kỷ trước
tại Việt nam do nhạc sĩ nổi tiếng Hùng Lân:
Đêm Thánh vô cùng
Giây phút tưng bừng
Đất với trời xe chữ đồng
Đêm nay Chúa Con thần thánh tôn thờ
Canh khuya giáng sinh nơi chốn hang lừa
Ơn châu báu không bờ bến
Biết tìm kiếm của chi đền.
Bản Anh ngữ:
Silent night, holy night
All is calm, all is bright
Round upon Virgin, Mother
And Child
Holy Infant so tender and mild
Sleep in heavenly peace
Sleep in heavenly peace
Phạm hoàng Nghị