TGM Nguyễn như Thể
VietCatholic News.
10/12/1999
Dưới đây là bài phát biểu của Ðức TGM Nguyễn như Thể trong thượng hội
đồng các Giám Mục Á Châu tổ chức vào năm 1998 tại Roma"
Trọng kính Ðức Thánh Cha, kính thưa quý Nghị Phụ, chúng tôi xin xác tín tầm quan trọng của việc hội nhập văn hóa trong công cuộc rao giảng phúc âm liên quan đến Việt Nam.
1.việc tôn kính tổ tiên trong văn hóa việt nam
2. Việc tôn kính tổ tiên trong cuộc tranh luận về các nghi thức của việc phụng thờ tổ tiên:
3. Việc tôn kính tổ
tiên là yếu tố văn hóa và luân lý:
Việc hội nhập văn hóa phải đương đầu với một vấn đề hết sức
nghiêm trọng là vấn đề tôn kính tổ tiên. Giờ đây, chúng tôi nói việc
"tôn kính" thay vì "phụng thờ" tổ tiên để có một phân
biệt rõ ràng trên bình diện thần học.
Bài phát biểu của tôi là một cách đề cập đến vấn đề này vừa quy
chiếu về các số 7 và 45 của văn kiện tài liệu làm việc.
1.việc tôn kính tổ tiên trong văn hóa việt
nam
Tất cả các nhà truyền giáo
và các nhà nhân chủng học như L.K..,vì đã sống ở Việt Nam, nên có thể
nhận thấy dễ dàng rằng việc phụng thờ tổ tiên là tôn giáo chính ở
Việt Nam và việc phụng thờ tổ tiên là yếu tố thiết yếu nhất của
việc phụng thờ các thần linh.
Những tôn giáó khác hoặc những giáo huấn khác như Khổng giáo, Phật
giáo, Lão giáo cả ba đều đến từ Trung Quốc đã phải thu nhận những yếu
tố thiết yếu từ các tư tưởng bình dân để được dân chúng chấp nhận.
Nền luân lý Khổng giáo nhìn xem lòng hiếu thảo như là nhân đức căn bản
của gia đình và xã hội, người ta nhìn xem việc sốt sắng tôn kính và
những việc phục vụ dành cho cha mẹ khi còn sống cũng như khi qua đời là
một bổn phận ưu tiên, luân lý và nền văn minh đều tùy thuộc vào bổn
phận này.
Lão giáo xác định rõ ràng những nghi thức tỉ mỉ cho việc chôn cất cha
mẹ qua đời và cho những lễ giỗ khác nhau, chẳng hạn như ngày lễ giáp
năm, ngày qua đời của tồ tiên, Ðó là những bổn phận quan trọng nhất
của con cái đối với cha mẹ, nhất là khi con cái là những anh chị cả
trong gia đình.
Những tín đồ Phật giáo cũng quý trọng lòng hiếu thảo này và xem đó
như là việc thực hành cao nhất của lòng từ bi Phật giáo. Ða số những
người cộng sản Việt Nam cũng cầu nguyện với tổ tiên họ trong đời sống
gia đình.
2. Việc tôn kính tổ tiên trong cuộc tranh
luận về các nghi thức của việc phụng thờ tổ tiên:
Chúng ta biết rõ cuộc tranh luận
lịch sử về các nghi lễ phụng thờ, nhất là nghi lễ dành cho tổ tiên
trong xứ truyền giáo Trung Quốc từ thế kỷ 17-tk 20.
Trong cuộc tranh luận này, vì những hiểu lầm trên bình diện lịch sử
và phong tục, nhiều văn kiện đã được công bố chống lại việc chấp
nhận những nghi lễ việc phụng thờ tổ tiên trong đường lối thực hành
của Công giáo. Giáo Hội Công giáo tại Trung quốc và Việt Nam đã phải
chịu nhiều hậu quả đau thương.
Tại Trung Quốc, phải chờ đến Huấn thị được công bố ngày 8/12/1939
để rút lại lệnh cấm; và tại Vietnam phải đợi đến năm 1964, lúc đó
lần đầu tiên Hội đồng Giám Mục Viet Nam mới cho phép tín hữu vài
hình thức phụng thờ dành riêng cho ông bà tổ tiên, vừa vẫn loại bỏ
điều gì xem như là dị đoan. Như thế, người ta có thể có những bàn thờ
tổ tiên trong gia đình và trên bàn thờ tổ tiên, có thể đặt những hình
ảnh hay bài vị của tổ tiên và trước hình ảnh hay bài vị nầy, người
ta có thể cúi mình tôn kính.
Mặc cho những điều vừa nói, một số người công giáo Việt Nam không chấp
nhận dễ dàng những thực hành này, mà họ xem như là còn mang tính cách
ngoại đạo với những giáo huấn đã được lãnh nhận trước đó, người
ta còn cảm thấy vài chia rẽ nơi những người công giáoVN trong vấn đề
này.
Chính trong đời sống gia đình mà sự chia rẽ này trở nên hiển nhiên, chẳng
hạn khi có lễ kỷ niệm ngày qua đời của tổ tiên, thì tất cả mọi
thành phần của gia đình họp nhau lại để làm việc phụng thờ tổ
tiên, nhưng nếu có những thành phần trong gia đình là người công giáo
thì những thành phần này được miễn, và vì thế mà những người công
giáo bị xem là những người con bất hiếu và đạo công giáo bị xem là
tôn giáo ngoại quốc, đây là một trở ngại lớn nhất cho công cuộc rao
giảng Phúc âm.
3. Việc tôn kính tổ tiên là yếu tố văn hóa và luân lý:
Trong quá khứ, người ta đã
luôn luôn xem việc tôn kính tổ tiên như là một hình thức của niềm tin
tôn giáo.
Thoạt tiên những nghi thức và những cử chỉ của việc kính tổ tiên có
đặc tính giống với việc phụng thờ của một tôn giáo, nhưng xét cho
cùng thì việc phụng thờ này có tích chứa trước hết, một đặc tính văn
hóa và luân lý thật sâu xa trong đời sống xã hội và gia đình. Từ đó,
việc rao giảng Phúc âm tại Việt Nam có thể có yếu tố văn hóa và luân
lý hết sức phong phú và có thể dễ dàng đưa yếu tố này vào trong phụng
vụ, nghi thức, trong giáo lý về sự hiệp thông các thánh.
Giáo Hội tại Á Châu và nhất là tại Việt nam, không bao giờ được quên
rằng Giáo hội có bổn phận rao giảng Tin Mừng trong những hoàn cảnh của
dân chúng, rằng Giáo hội phải xem như là bổn phận ưu tiên của mình việc
đối thoại liên lĩ, khiêm tốn và đầy yêu thương với những nền văn hóa
và những truyền thống ngõ hầu Giáo hội có thể được hòa nhập hoàn
toàn với dân chúng.
Ðây là điều liên HÐGMAC đã tuyên bố vào năm 1974. Một khi vấn đề
quan trọng này được giải quyết và nếu các Giáo hội tại Á châu có thể
cống hiến những đường hướng tốt để hội nhập văn hóa truyền thống
bình dân nầy trong tinh thần Phúc âm thì người ta có thể hy vọng trong tương
lai, việc rao giảng Phúc âm tại vùng đất Á Châu này sẽ có tiến bộ lớn.
Lời phát biểu này chỉ muốn đặt ra vấn đề khơi dậy những suy tư và
thảo luận, việc hội nhập văn hóa vừa là tiến trình nhờ đó, Phúc âm
được ăn sâu vào những nền văn hóa khác nhau, chẳng hạn như những nghi
lễ tôn giáo được đưa vào trong những môi trường gia đình, vừa là những
tiến trình, bởi đó, những phong tục và nền văn hóa địa phương cần
được đưa vào trong đời sống của Giáo Hội và gặp được những thể
hiện của chúng trong phụng vụ và những nghi thức cử hành bí tích. Tiếc
thay , ước nguyện này chưa được thực hiện đầy đủ trong các cộng đồng
Giáo Hội địa phương chúng ta.Vậy chúng ta sẽ làm gì trong tương lai?
Ðức TGM Stêphanô Nguyễn Như Thể