| Ðời sống tinh thần và vật chất thuở ban đầu của làng Kẻ Sặt |
vi - sơn
1 - Bối Cảnh Lịch SửNhư đã xác định, năm 1553 là năm thôn Tráng Liệt được thành lập. Ðây cũng chính là năm mà theo Việt Nam Giáo Sử của Linh mục Phan Phát Huồn, các giáo sĩ Bồ Ðào Nha đã đến truyền bá đạo Công Giáo tại Việt Nam. Từ cách gọi theo dân gian: Liệt Thôn, rồi Trang Liệt, triều đình đã đặt là xã Tráng Liệt. Do đó, Tráng Liệt cũng được chính thức tổ chức theo hệ thống hành chánh quốc gia thời bấy giờ.
Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, đó là thời kỳ Trịnh, Nguyễn phân tranh. Họ Nguyễn ở phía Nam, Họ Trịnh ở phía Bắc. Vua Lê trở thành hữu danh vô thực. Thủ lãnh của mỗi thế lực lúc đó được gọi là "chúa", như chúa tể thống lĩnh. Tráng Liệt thuộc vùng cai trị của chúa Trịnh.
Theo Xã Hội Việt Nam
của Lương Ðức Thiệp, thời kỳ này nước ta được tổ chức từ trung
ương đến địa phương gồm có: Bộ, Ðạo, Phủ, Lộ, Trấn, Châu, Huyện, Xã,
Thôn.
Tráng Liệt thuộc Ðạo Nam Sách (sau trở thành Xứ rồi Tỉnh Hải Dương). Khi Tráng Liệt của chúng ta được nâng lên cấp Xã hay Làng, với tư cách pháp nhân, thì có cơ quan quản trị do người làng tự cắt đặt ra, có công điền, công thổ, có hương ưóc (như hiến pháp) và khoán lệ (những qui luật).
Thời gian chưa có thánh đường, làng đã xây dựng một ngôi Ðình Làng để thờ phượng theo tín ngưỡng phổ thông của dân tộc, và cũng là nơi họp bàn việc công.
Ðình làng được xây dựng trên một thế đất đẹp tại khu Thượng. Phía trước có một giếng nước gọi là Giếng Ðình. (Giếng ở Miền Bắc rộng như một cái ao, nước được gánh về nhà làm nước uống và nấu ăn). Phía sau đình làng là một ao cá hình cái dạ chó, gọi là Ao Ðình. Ðặc biệt, mọi dòng nước quanh vùng đều chẩy tập trung vào ao này rồi mới đổ ra sông Sặt.
Ðình sơ khởi chỉ gồm một gian nhà gỗ nhỏ kiểu cổ, hai bên có hai dãy nhà giảng võ và dậy học, với những cây cổ thụ. ( Tới đầu thế kỷ XX này, đình được xây lại theo kiểu đông, tây, kim, cổ, có trần nhà và rộng lớn hơn). Cũng như các làng khác, trong đình có bàn thờ ông Thần Làng rất linh thiêng...
Hàng năm, ngày 25 tháng chạp gọi là ngày hạp triện (chuẩn bị); đến ngày 10 tháng Giêng là ngày khai triện (mở cửa đình). Khởi đầu ngày hội lớn này là một cuộc rước lão long trọng.
Ðại lược chương trình nghị sự của ngày mở cửa đình gồm có:
Nhận khai tân đinh, tức là thanh niên đến tuổi 18 xin được ghi vào sổ đinh.
Nhận trình lão hạng tức những ông tới tuổi 55 được sắp xếp vào danh sách để khi tới tuổi 60 sẽ chính thức trở nên thành viên của Hi Kỳ Anh hay Hi Hương Lão.
Bắt khoán tức là đối với những vi phạm trầm trọng như phá làng phá xóm, trộm cắp, chửa hoang đều bị những biện pháp trừng phạt của làng.
Tháo khoán là tuyên bố tha cho những ai đã bị phạt vạ xong. Tháo khoán cũng còn là nhận những đơn xin nhập bạ vào làng với điều kiện có người bảo lãnh.
4 - Những Hương Trưởng Tiền nhiệm
Trong công cuộc xây dựng cộng đồng quê hương, chúng ta không thể quên kể đến các vị đầu làng tiền nhiệm đã điều hành xã hội, nối tiếp sự nghiệp của ông bà Tổ, áp dụng những quyết nghị của các cụ và thi hành chính sách triều đình.
Việc này qủa thực không thể tìm ra được những tài liệu lịch sử biên niên chính xác. Nhưng qua ký ức của các vị cao niên, cùng với những văn tự bằng chữ Hán và Nôm của một số gia đình còn giữ được, và những bài ca vãn truyền khẩu, thì những vị sau đây đuợc ghi nhận:
Ông lý Khoa,
Ông lý Tín,
Ông lý Ðộ,
Ông lý Chỉnh.
Ðặc biệt, 2 vị ở đầu danh sách này còn
thuộc số các Anh Hùng Tử Ðạo Kẻ Sặt nữa!
Làm việc đời, nhưng các vị cũng là tín hữu. Do đó, dưới ánh sáng Tin
Mừng, các vị đã chu toàn nhiệm vụ cách tốt đẹp. Cùng với giáo quyền, các
vị đã hình thành những nề nếp tổ chức làng xứ, tạo nên truyền thống độc
đáo của quê hương.
Như đã trình bầy, làng Tráng Liệt được hình thành cùng thời gian với đạo Công Giáo tại Việt Nam. Từ Thanh Hóa di tản ra Hải Dương, ông bà Tổ đã tạm cư ở làng Châu, rồi mới tới lập nghiệp vĩnh viễn tại đất Sặt.
Có lời truyền tụng rằng trong một trận lụt nước chẩy xuôi, nhưng một Tượng Chịu Nạn lại trôi ngược từ làng Châu sang làng Sặt. Dân làng vớt lên thờ và đạo bắt đầu từ đó.
Về mặt lý trí, chúng ta có thể căn cứ vào những sự kiện về Ðạo Chúa tại Miền Bắc Việt Nam nói chung, đuợc tường thuật trong Việt Nam Giáo Sử, để suy ra sự hình thành của giáo xứ tiên khởi:
Ngày 2-2-1626, giáo sĩ Baldinotti người Ý, thuộc Dòng Tên, được gửi tới Bắc Việt. Người được Trịnh Tráng đón tiếp và trọng đãi tại Hà Nội.
Ngày 2-7-1627, giáo sĩ Alexandre De Rhodes (Cha Ðắc Lộ) cũng tới Hà Nội. Người và một số vị khác nói sõi tiếng Việt, nên công cuộc truyền giáo rất hiệu qủa.
Trở về La Mã, cha Ðắc Lộ xin Ðức Giáo Hoàng Innocent X cho thành lập hàng giáo sĩ và địa phận tại Việt Nam. Tiếp đó là sự nghiệp của các cha thuộc Hội Truyền Giáo Ba Lê (Pháp).
Ngày 14-2-1670, Ðức cha La Motte họp công đồng tại Nam Ðịnh và chia địa phận ra nhiều xứ, mà linh mục bản quốc được cử làm cha chính xứ. Lúc đó Bắc Việt có 7 thừa sai Pháp,11 linh mục Việt, nhiều thầy giảng và 200.000 giáo dân.
Năm 1679, Ðức cha Pallu xin Tòa Thánh chia địa phận của ngài ra làm hai: Ðịa phận Tây Bắc và Ðịa phận Ðông Bắc, lấy sông Hồng Hà làm ranh giới. Kẻ Sặt thuộc Ðịa phận Ðông Bắc.
Giáo xứ Kẻ Sặt tiên khởi được hình thành trong khoảng thời gian và khung cảnh Giáo Hội Việt Nam như trên, đặc biệt với những sự kiện sau:
Năm 1627, một linh mục dòng Tên, tiếng Việt gọi là Cha Năng đã đến Tráng Liệt giảng đạo.
Năm 1630, giáo xứ Kẻ Sặt được chính thức thành lập, với Cha Antôn Học làm chánh xứ.
Lúc đó giáo dân gọi các cha bằng "cụ". Nhà thờ đầu tiên được xây dựng ở Khu Thượng, tại khu vực Nhà Phước ngày nay. Ở Khu Trung và Khu Hạ thì có nhà nguyện, gọi là "nhà giáo".
Sinh kế căn bản của làng ta trong giai đoạn đầu do hai nguồn chính là:
Canh nông. Ruộng vườn đều là khẩn hoang. Những năm đầu đều được miễn thuế. Sau đó, Trịnh Cương sai các quan phủ, huyện làm việc đạc điền và định thuế biểu. Trong canh nông cũng cần kể tới nghề trồng rau rất phát đạt và trồng thuốc lào. (Thuốc lào Sặt được ưa chuộng ở Mạn Ngược vì hút rất...phê)
Nghề chài lưới cũng khá thịnh hành, vì sông Kẻ Sặt thuận lợi và bọc theo lãnh thổ làng. Ngoài ra, các dòng nước khắp vùng xung quanh thì cứ theo hệ thống rạch, cừ đổ về, mang theo rất nhiều loại thuỷ sản...
Nghề thủ công khéo léo như đan lát, lò rèn, nặn tượng và đồ gốm cũng được khởi sự.
Về mặt thương mại thì mỗi ngày một phát triển mạnh, vì những yếu tố địa lợi, trên bến, dưới thuyền, giao thông nối tiếp các vùng lân cận, nhất là năng khiếu kinh doanh Chúa ban.
Về tiền tệ, thời Lê Trung Hưng vẫn tiêu tiền Hồng Ðức (đời vua Thánh Tôn), tức là tiền kẽm. Triều đình còn cho đúc ra bạc lạng để tiêu; mỗi lạng 10 đồng, mỗi đồng 2 tiền. Bạc có thể cắt ra mà tiêu cũng được.
Giao thông: Ðường cái chỉ là lấy đất đắp lên, còn những con đường trong ngõ xóm thì lát gạch.
Phương tiện di chuyển và chuyên chở: Õ Người đi chân đất (không có giầy dép để đi) , gánh, vác, khiêng rất cực nhọc, hay dùng xe bò kéo rất nặng nề và chậm chạp.
Kỹ thuật: Cầy, bừa đất chỉ dùng sức người và trâu kéo. Ðể dẫn thuỷ nhập điền, gầu dai, gầu sòng được sử dụng và dùng guồng để kéo nước, nhất là khi tát ao bắt cá.
Về nhu cầu ánh sáng, dân làng phải đốt đuốc, thắp nến và dùng đèn dầu lạc. Ðặc biệt tại các ngã ba đường làng cũng có những cột đèn và được thắp sáng ban đêm.
Về nhà ở, đại đa số thì mái lợp rạ, vách trát đất. Gia đình nào khá giả thì làm nhà gỗ, tường xây và mái ngói. Nói chung thì nhà nào cũng có một cái sân lát gạch để phơi thóc và hoa mầu.
Bữa ăn thì cơ bản là cơm canh với cà, cá, cua; tuy đạm bạc nhưng ngon miệng và bổ dưỡng.
Chất đốt phổ thông là rơm, rạ, củi, trấu và than.
Không có dịch vụ y tế công cộng, nhưng khi đau yếu dân làng thường tự chữa trị theo kinh nghiệm dân gian. Ðối với những bệnh quan trọng thì lại có những ông lang chẩn mạch và bốc thuốc theo khoa Ðông y.
Nho học rất thịnh hành kể từ đời Tiền Lê. Trường làng ta lúc đầu làm ngay tại hai dãy nhà giảng võ ở khu Ðình Làng.
Trong nước, cứ ba năm mới mở một khoa thi Hội ở kinh đô. Tới năm Mậu Ngọ 1678 thì ba năm mở một khoa thi Hương tại các tỉnh, kể cả Hải Dương.
Những vị khoa bảng trong làng lúc đó chỉ có những ông khóa, ông đồ. Không ghi nhận được những cấp ông tú, ông cử nào.
Một số văn, thơ, vè, vãn do các vị sáng tác còn được lưu truyền tới ngày nay.
Về văn nghệ, giải trí của người lớn cũng như trẻ em, thường phổ thông nhưng sâu sắc và vui tươi.
Các trò chơi như đánh bi, đánh đáo, đánh khăng, đánh chắt, nhẩy dây, nặn đất, thả diều, múa lân, kể cả những hình thức cờ bạc như lắc đĩa, tổ tôm, chắn, bất, tam cúc v.v...
Các thể loại văn chương bình dân như ngâm thơ, bình câu đối, hát ru em, hát trống quân, diễn kịch...
Nhạc khí chỉ có các loại đàn cổ Việt Nam như độc huyền, nhị, nguyệt, sáo, tiêu, trống, phách, xênh gọi chung là "phường bát âm" theo giai điệu ngũ cung Ðông Phương.
Ðặc biệt, khi áp dụng trong việc thờ phượng, các cụ còn sáng tác những điệu ca vãn như dâng hoa, dâng hạt, than quyển, ngắm đứng đầy dân tộc tính và tổ chức ban phường trống với những động tác cùng nhịp điệu rất linh hoạt, tưng bừng...Việc thông tin đại chúng thì dùng mõ. Mõ là một dụng cụ làm bằng gốc tre già, được khoét rỗng ở giữa, có khe hở như miệng há và phát ra âm thanh ròn rã, tần số cao và xa. Người đảm trách công tác này đuợc gọi là anh mõ hay "thằng mõ". Nhân viên thông tin này có nhiệm vụ đi đến từng ngõ, gõ một hồi mõ để gây sự chú ý rồi rao lên những lời thông tin. Ví dụ: "Cốc cốc cốc...nghe đây!nghe đây! Tôi chiềng làng nước, dân dậy tôi đi rao, nhà ai có trâu bò, mai đưa lên đình mà báo. Cốc cốc cốc...
An ninh phòng thủ làng thôn là một công tác quan trọng nên được chú trọng đăc biệt, hầu để bảo vệ sinh mạng và tài sản của dân cư, để phát triển và thăng tiến đời sống.
Xung quanh làng được đào cừ, đắp lũy và trồng tre kiên cố, có những cổng làng để ra đồng. Trong làng còn có những điếm canh ( điếm tuần ). Mọi thanh niên tới tuổi 18 sau khi khai tân đinh ở đình, đều có nhiệm vụ tuần phu để bảo vệ và xây dựng làng. Thanh niên làng ta vốn rất can trường, như câu tục ngữ quê hương đã thể hiện:
" gan Sặt mặt Búa ".( Búa cũng là tên của làng Phúc Bố ở bên kia sông Sặt ).
Vũ khí gồm có dáo mác, gậy gộc, trống chiêng, tù và...Thanh niên được huấn luyện quyền thuật và côn trượng rất tinh tường.
Phòng hỏa cũng thuộc lãnh vực an ninh. Dụng cụ chính là câu liêm để kéo sập những ngôi nhà gần đám cháy để khỏi bị lây lan.
Ðối với quốc gia, thanh niên còn có nghĩa vụ quân sự khi tình hình đòi hỏi. Nhà Hậu Lê đã đặt ra hai thứ binh:
"ưu binh" lấy tại Thanh Hóa, Nghệ An, có nhiệm vụ phòng thủ kinh đô, được cấp công điền và ban cho chức sắc;
"nhất binh", lấy tại Sơn Nam, Sơn Tây và Hải Dương, có nhiệm vụ phòng thủ các trấn, tỉnh; lập thành vệ, cơ, đi. Mỗi cơ có 200 người, để 100 tại ngũ còn 100 cho về làm ruộng trừ bị.
Trong thời kỳ này, có một vị chỉ huy quân sự lừng danh cấp Cơ thuộc tỉnh Hải Dương lại chính là ông quản cơ Chu Tăng Xương người làng Tráng Liệt của chúng ta. Ông từng tạo được nhiều chiến công hiển hách. Nhưng, trong một trận giao tranh với quân Tầu, ông đã bị chúng chặt mất thủ cấp. Triều đình bèn truy tặng ông một cái đầu bằng vàng ròng,rồi mới đưa về quê. Ông được mai táng tại một huyệt đất quí thuộc khu vườn nhà cụ Bạ Hanh. Sau này người ta từng thấy có nhiều hiện tượng phi thường .
oOo
Trên đây là những nét chính yếu về tình trạng đời sống tinh thần và vật chất của quê hương chúng ta vào thuở ban đầu.
Vi - Sơn