In bài

Tình trạng làng xứ Kẻ-Sặt Trong thời kỳ ổn định

vi-sơn

Ổn định ở đây chỉ hàm ý rằng Quê-hương chúng ta đã trải qua thời kỳ hình thành như đã lược thuật ở các kỳ trước. Với tâm tình yêu mến, chúng ta cùng tiếp tục cuộc hành trình về lối cũ đường xưa. Từ năm 1870 đến nửa năm đầu 1945.


Bối cảnh lịch sử:
Trước sức mạnh của võ khí mới, Triều đình ta đã phải ký hòa ước 1883 và 1884 nhận việc đô hộ của Pháp nốt trên Miền Bắc. Lúc đó, Nam kỳ là đất thuộc địa, Trung kỳ và Bắc kỳ là xứ bảo hộ, do vua Việt Nam cai trị. Nhưng Bắc kỳ bị tách dần ra khỏi sự điều khiển của Triều Ðình Huế, theo chính sách chia để trị của thực dân.

Phong trào Cần Vương cứu quốc do vua Hàm Nghi lãnh đạo sôi sục trên toàn quốc. Dân làng ta cũng tích cực đào hào đắp lũy chống Pháp, nối tiếp truyền thống hào hùng chống Tàu thuở xưa...Có một câu ca dao quê hương còn truyền tụng:
''Dân phu đắp lũy đào hào,
Lãy sông xây ụ ngày nào là ngơi.''
Cũng còn một sự kiện đáng ghi là vào khoảng thượng tuần tháng 10 năm 1873, viên đại úy hải quân pháp là Francis Garnier đã đem 170 binh sĩ đóng tại bến đò Kẻ Sặt. Tại đây, y đã viết thư cho Jean Dupuis bàn kế hoạch đánh Hà Nội và mưu đồ nhờ Ðgm Puginier giới thiệu với ông Nguyễn Tri Phương. Sau đó xẩy ra vụ nổ súng đánh Hà Nội ngày 15-10-1873.
Trong bối cảnh lịch sử đó, mọi mặt sinh hoạt của làng xứ Kẻ Sặt vẫn thể hiện rõ đặc tính tự trị của một đơn vị hành chánh và xã hội Việt Nam, được thăng hoa bởi nền văn minh Thiên Chúa Giáo.
Với khoảng thời gian ngót một thế kỷ đó , Quê hương chúng ta đã trải qua bao diễn biến thăng trầm về mọi mặt của đời sống, mà những nét vàng son còn ghi đậm và có ảnh hưởng tốt đẹp mãi về sau.


Phát triển giáo xứ
Ngay từ trước khi Pháp chiếm được Miền Bắc, việc truyền giáo ở đây vẫn được tiến hành. Nay với tình hình chính trị mới,việc truyền giáo trở nên thuận lợi hơn. Giáo xứ Kẻ Sặt được củng cố và phát triển mạnh mẽ , trở thành một cộng đoàn đức tin tiêu biểu của Giáo Hội Việt Nam.


A/-Kiến thiết Nhà Thờ:

Như đã nói, nhà thờ đầu tiên của giáo xứ từng được thiết lập tại lãnh địa Nhà Phước trên Khu Thượng...

B/- Xây dựng Nhà Mụ:

Cha tràng LIÊM, tên Y pha nho là Bonifacio Gratia, đã lập ra nhà mụ, nhà thương xót và cả chợ Sặt nữa. Chợ lấy danh nghĩa là chợ của nhà thương xót, lợi tức dùng để nuôi người già yếu, bệnh tật. Ðây chính là mục vụ thực hành đức ái vậy. Sau vì thấy được mối lợi lớn, chính quyền địa phương bèn cho đấu thầu, chỉ còn dành cho nhà thương xót một phần nhỏ. Năm 1935, chính quyền cho cất hai dẫy quán bằng khung sắt, lợp tôn.

C/-Vị mục tử đặc biệt:

Cha tràng Liêm còn lập ra những phép tắc cho xứ Sặt; các chức vị như Chánh trương, Trùm, Bạ, các Giáp, các Hội đạo đức như Hội Ông Thánh Giuse, Hội Camêlô, Họ Dòng Ba, Hội Bà Thánh Anna vv...

Tổ Chức Giáo xứ:

Giáo xứ được tổ chức theo một qui chế rất khoa học, tinh vi với những đặc tính văn hóa Ðông Tây hòa hợp, vì được hướng dẫn bởi các vị chủ chăn tây phương và được phối hợp với những giá trị truyền thống Á Ðông.

A/Khu:

Ðứng đàu cộng đoàn là vị Chánh Trương Xứ hay là Trùm Ba Khu. Giáo xứ Kẻ Sặt gồm có : Khu Thượng, Khu Trung, Khu Hạ, Khu Tư và các Họ như An Quý, Thuỷ Cơ, Phúc Càu, Bối Tượng. Mỗi khu có một điếm, thường gọi là điếm tuần, là trụ sở hội họp, canh gác và tổ chức lễ nghi tôn giáo.

Mỗi Khu lại có Chánh và Phó Trùm tộc, thủ bạ, 2 ông trương, hai bà trương, (đây là trương kinh, khác với trương tuần) và ông trùm săng ti (để lo tổ chức lễ Phục Sinh)


B/Ngõ:

Mỗi Khu còn được chia ra các Ngõ hay Xóm, đứng đầu là một vị Trưởng Họ, với một viên thủ dịch để phụ tá các ông trùm, bạ và hai Bà Mụ lo việc gây quĩ. Tổ chức ngõ xóm là một tập thể các gia đình có liên hệ về gia tộc và lân bang, lại chung lo việc tế tự và lễ nghi tôn giáo. Ðặc biệt, mỗi Ngõ còn có một bản qui ước ghi những điều khoản thực hành đức yêu thương, bổn phận đối với việc công ích, việc giữ gìn an ninh trật tự và những biện pháp chế tài như khiển trách, kể cả đánh đòn khi vi phạm tài sản hay đả thương người khác...Những qui định của các Ngõ mặc nhiên trở thành bộ hương ước chung của làng Kẻ Sặt vậy.


Khu Thượng có 7 Ngõ : Phương Chính, Trung Chính, Quang Chính, Qui Chính, Thuần Chính, Ðoan Ðông, Ðoan Tây.

Khu Trung có 7 Ngõ: Tràng Xuân, Ðồng Xuân, Tân Xuân, Lạc Xuân, Thường Xuân, Tiên Ðông, Tiên Tây.

Khu Hạ có 8 Ngõ: Ứng Hòa, Ruyệt Hòa, An Hoà, Thanh Hoà, Trung Hoà, Hợp Hoà, Xuân Hoà, Nhân Hoà.

Khu Tư cũng gọi là Khu An Quý được thành lập sau, lúc phố Sặt phát triển thành một thị tứ sầm uất, do những di dân từ các nơi dến lập nghiệp, nhất là người Bát Tràng. Vì đặc tính phố xá nên Khu Tư không có các Ngõ mà chỉ lập ra các Giáp. Lúc đàu là hai Giáp An Thành và Liệt Thị; sau vì đông dân lại thêm hai Giáp An Phú và An Nghĩa.

Năm 1945, những người Bát Tràng định tách rời An Quý thành khu tự trị. Nhưng gặp phản ứng mạnh, điển hình là một cuộc biểu tình với khẩu hiệu ''Ðất Sặt phải do người Sặt trông coi''; do đó, ý định trên đã không thành.


C/Sau Khu và Ngõ còn có các Giáp.

Giáp là một tập hợp gồm nhiều gia đình, khởi đầu là cùng một dòng họ, sau mở rộng ra cùng một ngõ xóm, có mục đích chính là giúp đỡ nhau lo về việc tang chế.

Có tất cả 27 Giáp: Tráng Nguyên, Hưng Nhượng, Thọ Thuận, Thọ Ninh, Thọ Thượng, Phú Thứ, Phú Giáo, Phú Cường, Cường Trung, Cường Thái, Cường Hòa, An Thành, An Phú, Phú Cường Thượng, Hưng An, Lộc Mỹ, Thọ Hành, Thọ Hòa, Phú Tráng, Phú Lộc, Phú Thọ, Cường Bản, Cường Hữu, Cường Ðại , Cường Thượng, Liệt Thị và An Nghĩa.

Thanh niên khi đến tuổi 18 phải ghi danh vào Hàng Giáp. Mỗi cuối năm, các Giáp có một cuộc tính sổ, theo thứ tự trong danh sách, mời các vị lão hạng lên cỗ trên, công bố tên các thanh niên mới gia nhập cử thư ký và xác nhận tân trưỏng giáp. Trong các buổi họp thường có những cuộc tranh luận sôi nổi. Kết thúc đại hội là một bữa tiệc cỗ tưng bừng.


D/Hội Tư Văn:

Gọi là hội nhưng thực ra lại có tính chất của một cơ chế, gồm các vị hương lão, các chức sắc tân, cựu, đạo, đời, các vệ, binh, nhiêu, đứng đàu là một chánh hội phụ trách về cố vấn, tổ chức và điều hành các lễ nghi xã hội và tôn giáo.

Tổ chức Hành Chánh Làng Xã

Hệ thống tổ chức Khu, Ngõ, Giáp nguyên uỷ là tổ chức về xứ đạo. Nhưng riêng ở thực thể làng xứ Kẻ Sặt chúng ta, đạo và đời đã từng bước hòa đồng một cách tự nhiên và đặc thù. Quả vậy, theo điều 284 B Dân Luật Bắc Kỳ năm 1931; Khu, Ngõ và Giáp đã được hợp thức hóa và được ban cấp tư cách pháp nhân (personne juridique), tức là một chủ thể có nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật như một cá nhân. Nhưng trên cả hệ thống này là một cơ cấu tổ chức quản trị hành chánh làng xã rất chặt chẽ và dân chủ như sau:


A/-Cơ quan quyết nghị:

là Hội Ðồng Kỳ Mục, gồm các thân hào nhân sĩ; các người có khoa bảng như các ông đồ, khóa; các vị có phẩm hàm; các cựu hương trưởng như chánh, phó tổng, tiên, thứ chỉ, lý, phó trưởng; các hương mục như khán thủ, trưởng, thứ, lang, xã đoàn, đội, xếp, cai, vệ, binh, nhiêu; và các hương lão tuổi từ 60 trở lên.Ðứng đàu hội đồng này là vị tiên chỉ (Riêng các Hương trưởng, Hương Mục và Hương Lão lại còn là 3 ngành của một hội đoàn có tên là Hội Kỳ Anh, đứng đầu là một cụ nhất, tức là hội trưởng hay chủ tịch. ) Theo thói quen, cơ quan quyết nghị của làng thường được gọi một cách bình dân và kính mến là Các Cụ. Hội đồng kỳ mục có chức năng của một hội đông nhân dân ở địa phương hay quốc hội ở trung ương thời nay. Tuy nhiên, phần lớn là chỉ lo về những việc thuộc nội bộ và kỷ cương truyền thống của làng mà thôi.


Ðến năm 1921, chính quyền bảo hộ cải tổ Hội Ðồng Kỳ Mục thành ra Hội Ðồng Hương Chính cũng gọi là Hội Ðồng Tộc Biểu, do dân bầu, mỗi Giáp đề cử 1 người, có nhiệm kỳ 3 năm. Người đứng đầu là Chánh hương hội. Năm 1941 lại đổi thành Hội Ðồng Kỳ Hào.

B-Cơ quan chấp hành:

Xem như trên, cơ cấu tổ chức cơ quan quyết nghị thật là nặng nề, xuất phát từ não trạng danh phận và chức vị trong chốn hương đảng tiểu triều đình. Tới đây, tổ chức cơ quan chấp hành cho chúng ta thấy tính chất đày đủ và cần thiết đối với đời sống xã hội của dân.

Ðứng đầu là một vị Lý Trưởng, vị phụ tá là Phó Lý. Hai nhân vật này do một cử tri đoàn gồm các chức dịch đại diện dân bầu lên.

Các viên chức thuộc uỷ ban hành chánh gồm có: Thư ký, Thủ Quĩ, Hộ lại (lo về khai sinh, hôn thú), Chưởng Bạ (lo về điền thổ), và các Trương tuần. Ðặc biệt, trương tuần do Hộ Ðồng Kỳ Mục chỉ định.

Năm 1944, Kẻ Sặt được nâng lên hàng thị xã, vẫn gồm 4 khu Thượng, Trung, Hạ và khu Tư. Ðứng đầu mỗi khu này gọi là Hộ Phố. Lý trưởng kiêm nhiệm chức vị Chánh Hội Thị Xã.

Tuy có cơ quan quyết nghị như nói trên, trong thực tế cơ quan chấp hành mà điển hình là người đứng đầu lại có rất nhiều quyền hạn và có ảnh hưởng mạnh đối với dân làng, vì trực tiếp làm việc vì quyền lợi và nghĩa vụ của dân.

Trong thời kỳ này, những vị lãnh đạo nền hành chánh gồm quý ông:
Ông Chánh Phong,
Ông Chánh Thọ
Ông Lý Khánh
Ông Lý Hồ
Ông Lý Tuyên
Ông Lý Minh
Ông Lý Lung
Ông Lý Nghĩa
Ông Phó Miễn (Quyền Lý trưởng)
Ông Lý Khoái
Ông Lý Kiệm


C- Vài nét đáng ghi:
Có một nhân vật đặc biệt trong thời đại này là ông Chánh Xuyên.Ông đã lên làm Chánh Tổng Thị Chanh bằng một đường lối độc đáo. Thuở niên thiếu, ông là một tay lãng tử, đến nỗi đã bị bắt khoán trong một đại hội ở đình làng. Ông đã dám chống lại các cụ và bỏ đi khỏi làng với lời cảnh cáo '' rồi sẽ biết tay ông''. Quả vậy, ông đã tìm cách làm phu, rồi làm tới thư ký tại sở than Mạo Khê của tây. Nhờ thông minh và có chí lớn, ông học nói tiếng Pháp rất thạo, lại trở thành con nuôi của viên công xứ Hải Dương là Pouchet. Gặp lúc chức Chánh Tổng Thị Chanh khuyết, bao nhiêu hồ sơ đạo đạt với những điều kiện khả dĩ đều bị xếp. Công Xứ Pouchet đã quyết định phong cho ông chức Chánh Tổng Thị Chanh, có quyền trên cả xã Tráng Liệt. Thế là ông đã thực hiện được lời thề, cũng là lời cảnh cáo lúc bỏ làng ra đi. Và, khi cưỡi ngựa về làng với lính hầu cận, mọi người đã ''biết tay ông''!

Trong số các vị hương trưởng, ông Lý Lung là người làm việc làng lâu dài nhất, ông được tín nhiệm tái cử, và nhiệm kỳ của ông tới 19 năm !


Ông Lý Kiệm, cũng gọi là ông Bá Kiệm vì ông là người đạt được phẩm hàm cao nhất, tức Cửu Phẩm Văn Giai do sắc phong của vua Bảo Ðại, xác định tước vị Chánh Phẩm Bá Hộ, kiêm nhiệm cả về văn và võ. Tháng giêng năm 1944, một cuộc rước sắc và khao vọng linh đình đã được tổ chức suốt hai tuần lễ. Cũng năm này, Kẻ Sặt được nâng lên hàng thị xã, và ông được uỷ thác luôn chức Chánh Hội Thị Xã. Ngoài ra, trong niềm vinh dự chung của quê hương lúc đó, ông lại được yêu mến trao phó thêm một nhiệm vụ tôn giáo nữa là Trùm Ba Khu.

Mừng lễ Phục Sinh năm 1944, cả ngọn núi Calvario làm hang đá đã được thiết dựng bao trùm hết một khu nhà dẫy, huy động mọi năng khiếu nghệ thuật và tổ chức của dân xứ.

Õ

Sinh Hoạt Ðạo Ðức

Vào những năm cuối của thế kỷ 19, liền với giai đoạn này, một biến cố lớn lao đã diễn ra là cuộc cấm đạo đày máu và nước mắt, do triều đình nhà Nguyễn chủ trương, khiến dân làng Kẻ Sặt đã có tới 33 vị tử vì đạo. Vì biến cố này mang một tầm mức quan trọng với nhiều chứng liệu, nên xin được tường thuật riêng, như đã có lần đề cập trong những số trước.

Về ơn gọi, có thể nói rằng giáo xứ Kẻ Sặt là cái nôi vàng, nơi xuất thân của các vị. Từ bậc tu sĩ nam, nữ đến thiên chức linh mục. Trong giáo hội Việt Nam, dường như không thấy một cộng đoàn đức tin nào lại có được con số đông đảo người đáp lại tiếng Chúa, được Chúa tuyển chọn như tại đây. Vâng, tính từ khởi đàu cho tới giai đoạn ổn định này, riêng về các linh mục đã có tới trên con số 30 vị. Và tính tới ngày nay (1999), thì đã có tới trên con số 100 ! Ôi, lòng ưu ái của Chúa dành cho Xứ Ðạo chúng ta biết bao cao vời.

Nói chung, sinh hoạt đạo đức của dân xứ Kẻ Sặt thì vô cùng sốt sáng, vì là một giáo xứ toàn tòng và là miêu duệ của các anh hùng tử đạo tiền nhân. Các hội đoàn công giáo thuộc mọi giới nam, phụ, lão, ấu được hình thành như trăm hoa đua nở và hoạt động rất tích cực.

Ðặc biệt, những ngày lễ lớn trong niên lịch phụng vụ như Lễ Phục Sinh, Lễ Mình Máu Thánh (Lễ Săng Ti), Tháng Dâng Hoa, Lễ Ðức Mẹ Văn Côi quan thầy giáo xứ và Lễ Sinh Nhật (Lễ Giáng Sinh) đều được tổ chức hết sức linh đình. Nhất là Lễ Phục Sinh, khởi sự từ Mùa Chay với việc ngắm đứng và dâng hạt, nhứng việc làm hang đá, nhà táng, trang hoàng thánh đường, điếm tuần, dựng cổng chào vv...Rồi khi tới Tuần Thánh là cao điểm của mùa lễ, bao nhiêu nghi thức nữa lại diễn ra như: lễ lá, rước chiên, làm quân dữ, đóng đinh Chúa, than quyển, tháo đanh, táng xác, hôn chân và kiệu mừng Chúa sống lại. Một điều đáng ghi nhận là hàng năm, vào dịp đại lễ này ở Sặt, bà con giáo dân từ các họ đạo trong vùng lại đổ về xứ Sặt để mừng lễ, thậm chí họ còn dựng lều ở sân lấp như đi picnic . Thực sự đây là một cuộc hành hương vậy. Tuy nhiên, từ đó mà truyền thống đạo đức tốt đẹp của làng xứ đã được hình thành và có tác dụng mãi cho tới ngày nay.

Hầu hết bà con ta vẫn xách chiếu đi lễ hàng ngày, rồi mới trở về nhà chuẩn bị việc đồng áng hay chợ búa, chứ không chỉ có ngày Chủ Nhật. Cách nói phổ thông lúc đó là đi "xem lễ". Mà đi xem lễ thật, vì suốt buổi lễ cha chỉ đọc tiếng la tinh, còn giáo dân thì cứ việc lần hạt kinh Mân Côi mà thôi. Khi giảng, cha phải xuống toà giảng ở giữa nhà thờ để mọi người có thể nghe rõ, vì lúc đó không có phương tiện phóng thanh. Nội dung bài giảng không chỉ có tìm hiểu Lời Chúa, mà thường là những điều chấn chỉnh giáo hữu, kể cả việc mắng mỏ nữa, vì dân trí đương thời. Các cha tây cũng nói tiếng Việt với giọng lơ lớ nhưng nghe hiểu.

Ngoài những nghi lễ, việc thăm viếng an ủi bịnh nhân rất được chú trọng, điển hình là tổ chức Hội Kẻ Liệt. Việc chôn xác kẻ chết như đã nói trong tổ chức Hàng Giáp; đến việc cầu nguyện cho người qua đời còn thiết tha hơn nữa qua sự thể là đọc cả tràng hạt 150, với đủ 3 mùa vui, thương, mừng và rất nhiều kinh khác nữa..

Một giai thoại có tính cách lịch sử và đức tin đáng kể lại là việc hai ông Ba Ðà và Thần Cây đã bị chết một cách tức tưởi rồi gây nên nhiều hiện tượng phi thường. Nguyên hai ông thuộc Khu Thượng, chuyên sống về nghề đi câu. Một hôm hai ông rủ nhau xuống cánh đồng làng Quàn (làng Ðình Tổ). Dân làng này nghi là hai tên do thám cho Tây nên đã bắt hai ông treo trên cành đa và đốt cỏ ở dưới mà hun. Ý định của họ chỉ để cảnh cáo, không ngờ hai ông đã chết ngạt vì khói. Ngay đêm đó, hai ông đã hiện vào trong làng Quàn làm náo động khiến dân làng phải hoảng sợ. Hai ông còn cảnh cáo rằng nếu không cầu nguyện nhiều cho các ông thì cả làng còn mất ăn mất ngủ vô hạn định. Dân làng Quàn đã nghiêm chỉnh thi hành và còn lên Sặt xin cầu nguyện thêm nữa. Do đó, có một thời gian giáo hữu xứ Sặt đã thêm vào kinh Phục Rĩ hai câu:"Càu cho ông Ba Ðà, Càu cho ông Thần Cây"; mãi tới khi không còn hiện tượng lạ nào nữa.

Ðời Sống Kinh Tế và Xã Hội


Trong thời kỳ này, về mặt kinh tế và xã hội cũng có nhiều sự kiện được ghi nhận cho chúng ta ngày nay nhận biết được từng bước phát triển của quê hương:

Như đã nói trong phần địa lý, Kẻ Sặt có một vị trí rất thuận lợi về kinh tế, thương mại trong toàn vùng, với trên bến, dưới thuyền và đường xá, kể cả đường sắt. Nhiều di dân đã đến lập nghiệp tại Sặt, nhất là ở Khu Phố như người từ Bát Tràng và cả người Trung Hoa, Ấn Ðộ nữa. Nhưng phải ghi nhận rằng người Sặt mình rất có khiếu về kinh doanh. Nghề nông gồm trồng rau và cầy cấy vẫn là chính. Một số đã chuyển sang lãnh vực buôn bán cũng rất thành công.


Hai nghề bán cau và bán muối còn được nhớ rõ người khởi đầu, từ khoảng năm 1890, qua câu ca dao quê hương như sau:
"Ai dậy Bà Nhiêu Truốc bán cau,
Ai bảo Bà Tư Màu bán muối. "


Con đường đá từ Quán Gỏi (ngã ba với quốc lộ số 5), bọc sau cơ sở Huyện, băng qua Khu Thượng tới Càu Chanh được đắp năm 1928.

Năm 1931, trận lụt lớn do nước sông Dương Tử bên Trung Hoa dâng lên, khiến cho 3 triệu 7 trăm ngàn người Tàu thiệt mạng. Bắc kỳ trong đó có làng Sặt cũng bị ảnh hưởng tai hại của trận lụt này. Cả làng phải bác ráo cao đến gần mái nhà để ở, có gia đình phải rỡ cả mái, tình trạng kéo dài cả tháng trời.

Ba điếm canh của ba khu được tu sửa thành hình dáng như ngày nay vào những năm 1937 (điếm Khu Hạ), 1938 (điếm Khu Trung) và năm 1939 (điếm Khu Thượng).

Về nhu cầu và tiện nghi đời sống thời kỳ này có những phương tiện mới như xe đạp, xe tay, ôtô; những mặt hàng tân tiến rất được ưa chung như diêm hộp hiệu con chim của nhà máy diêm Hà Nội, bật lửa, đèn pin, thuốc lá Cotab, bia Hommel, rượu Văn Ðiển, sữa bò đóng hộp hiệu tổ chim nhập cảng từ Pháp, bánh biscuit, thuốc tây như aspirine, máy hát quay dây cót, đèn cồn và đèn dầu hỏa. Ðèn dầu này thường gọi là đèn Hoa Kỳ, vì kể từ cuối thế kỷ 19, ngay sau khi người Pháp đặt xong nền đô hộ ở Bắc Kỳ, thì hàng hóa của các nước phương tây bắt đầu xâm nhập vào thị trường mới mẻ và còn chậm tiến này. Ðể quảng cáo mà cũng là để hướng dẫn sử dụng, công ty dầu hỏa Rockerfeller của Mỹ đã có sáng kiến làm những cây đèn bằng đồng để bán với sản phẩm dầu hỏa tại các nước Á châu, nên dân ta gọi là đèn Hoa Kỳ.

Sau này, do nền văn minh mới, đèn khí đá, thường gọi là đèn đất, rồi đèn măng xông (manchon) sáng như đèn néon ngày nay mới được sử dụng mỗi khi có việc làng, rước kiệu hay nhà có đám, đập lúa


Ðời Sống Tinh Thần và Văn Hóa

Truyền thống đạo lý đông phương nơi dân làng Sặt vốn được thể hiện rõ nét qua việc qúi trọng nhứng người cao niên như những câu "kính lão đắc thọ" và "trưởng nhất tuế vi huynh". Những ông khi tới tuổi 60 thì gọi là lên lão, thường tổ chức một tiệc mừng lớn tức là khao lão.

Tết Nguyên Ðán đầu mỗi năm là dịp ăn mừng lớn. Suốt ba ngày tết cả làng tấp nập đi lại với biết bao lời chúc, tiếng cười nói vui vẻ và hội họp ở các nhà tổ để biếu tết, chúc tuổi và cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Các đồng nhi lại còn tập hợp đông đủ ở nhà các ông, bà trương kinh để bầy tỏ lòng kính trọng và biết ơn. Các học trò đối với thầy giáo cũng làm tròn nghĩa vụ "tôn sư trọng đạo". Trong những ngày tết còn có rất nhiều hình thức chơi bài bạc của người lớn và cả trẻ em nữa, kéo dài đến suốt Tháng Giêng là tháng ăn chơi .

Tết Trung Thu cũng được ăn mừng không kém, với bánh nuớng, bánh dẻo, trái cây, lồng đèn và các trò chơi, các cuộc hát trống quân, các buổi diễn kịch.. Trong dịp lễ này, các chàng rể mới thường phải sêu tết bố mẹ vợ bằng hình thức biếu nhiều loại trái cây. Dần dần, tết Trung Thu trở thành ngày hội đặc biệt của thiếu nhi.

Riêng về kịch nghệ, phải công nhận thanh niên Sặt có tâm hồn nghệ sĩ và khả năng khá phong phú. Nhiều đoàn hội được thành lập ra và thi đua diễn xuất. Lúc đó không có những tiết mục song ca, hợp ca tân nhạc mà thường chỉ có nhũng vở kịch xã hội và lịch sử rất ý nghĩa như vở Ông Lý Mỹ là một vị tử đạo của Giáo Hội Việt Nam. Về các vai nữ thì thường thanh niên hóa trang chứ không có thanh nữ nào đóng, vì quan niệm đương thời giới hạn vị trí nứ giới. Ngoài ra, những vở hài kịch cũng rất sáng giá, vui cười và có tác dụng. Không có hội trường riêng mà thường tổ chức trong sân những tư gia rộng hay ở khoảng trống giữa nhà thờ và nhà dẫy.

Về đòi sống tình cảm và hôn nhân thì: vì lễ giáo khắt khe và nghiêm khắc, dưới bóng tháp cao và trong lũy tre xanh, mối quan hệ nam nữ tự nhiên vẫn có những cuộc tình nên thơ lãng mạn kể cả lâm ly bi đát. Nhưng tựu chung, trong việc hôn nhân, nguyên tắc ''cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy'' thường được tôn trọng và áp dụng triệt để. Do đó, hạnh phúc gia đình ở làng xứ Kẻ Sặt vẫn là những tấm gương sáng ngời, với những người vợ thủy chung, những con dâu thảo, những bà mẹ hiền.
Một nét đặc trưng của giải đất tứ quí này khó phủ nhận được, là con gái làng Sặt khá xinh đẹp và đảm đang. Cũng vì lễ này cho nên lúc đó từng nẩy sinh một cái quan niệm rất cực đoan rằng ''lấy quân thiên hạ không bằng lấy chó làng ta!'' Thật là một quan niệm đày tính chất phân biệt chủng tộc kiểu ''apartheid' 'ngày nay. Tuy nhiên, quan niệm này đã được nghiêm chỉnh xét lại và nhanh chóng trở nên lạc hậu rồi.

Cũng trong thập niên 1940, một tệ đoan xã hội xuất hiện ở phố Sặt, đó là hiện tượng mấy nhà hát cô đầu được mở ra. Hát cô đàu hay hát ả đào nguyên là một hình thức sinh hoạt văn chương từ lâu, chuyên ngâm vịnh những bài hát nói do các nhà nho sáng tác, với đàn địch và trống chầu điểm nhịp. Tuy nhiên, sinh hoạt này dần dần biến thành một tệ đoan...Câu ca dao sau đây đã nói lên diều này:
''Cô đầu cô đít cô đuôi,
Bố tôi đi vắng ai nuôi cô đầu.''

Trong việc học hành, các khoa thi chữ Nho bị bãi bỏ ở Bắc Kỳ từ năm 1915. Phong trào học chữ Quốc ngữ được nở rộ. Nhóm Nam Phong nối tiếp chương trình của Ðông Kinh Nghĩa Thục. Tuy các kỳ thi chữ Nho đã bỏ, nhưng việc học chữ Nho ở các làng vẫn được duy trì. Nhiều gia đình còn đón thầy đồ về nhà dạy con cháu nữa. Người Sặt ra Hà Nội học đầu tiên là ông giáo Thuân. Chương trình giáo dục mới của chính phủ bảo hộ buộc học sinh nước Nam phải học tiếng Pháp. Thời kỳ này làng ta cũng chỉ có một số nhỏ theo học và thường chỉ đậu tới bằng Certificat D'étude Primaire (Tiểu học) và một vài người đậu bằng Diplôme (Trung học) mà thôi. Theo truyền thống tốt đẹp của quê hương, học trò thi đỗ được các cụ đón tiếp ở đình để ban thưỏng và tuyên bố cho miễn mọi công dịch một cách rất vinh dự.

Tưởng cũng cần ghi lại một sự kiện xã hội đổi mới, rất mới trong thời kỳ này, đó là vào năm 1940, phong trào phụ nữ Sặt mặc quần thay cho váy như từ xa xưa, còn mặc áo dài thì cài cúc thay vì mở cúc như trước kia, khởi đầu từ Khu Tư và Khu Hạ. Lúc đó, sự kiện này có thể ví như một cuộc chạy đua thời trang đổi mới.

Sự kiện cuối là trong thời đệ nhất thế chiến (1914-1918) và đệ nhị thế chiến (1939-1945), nhiều thanh niên Sặt đã gia nhập quân đội Pháp để tham chiến tại Âu châu. Cấp bậc cao nhất được ghi nhận là ''Ðội'' như ông Ðội Cầm, chỉ huy một trung đội bộ binh. Cấp bậc nhiều người đạt được là ''Vệ'' chỉ huy một tiểu đội bộ binh trong quân đội Liên Hiệp Pháp hải ngoại (Légion étrangère francaíse).
Kết Luận
Tìm về quá khứ suốt chặng đường dài ngót một thế kỷ, dù với bao nhiêu sự kiện và biến cố như trên, vẫn chỉ mong như là một bản dự thảo còn cần được bổ túc. Dù sao, hy vọng cũng cống hiến quý độc giả những giây phút hưng khởi cho tâm hồn đối với niềm tin và tình quê. Trong kỳ tới, chúng ta sẽ tìm hiểu về giai đoạn 9 năm đày biến động, từ 1945 đến 1954, mà thế hệ chứng nhân ở trong cũng như ngoài nước, vẫn còn đây.

Vi-Sơn


Trang Nhà