| Kẻ-Sặt trong thời kỳ Nhật đảo chánh đến Hiệp-định Genève |
vi - sơn
1 Việt-Nam độc lập
Trong bối cảnh của Ðệ Nhị Thế Chiến, với
khí thế của cao trào dành độc lập dân tộc ở các nước bị trị, đêm
9-3-1945, Nhật đã thực hiện cuộc đảo chánh Pháp, chấm dứt chế độ
cai trị của thực dân Pháp trên đất nước Việt Nam. Tổ Quốc Việt Nam
nói chung và Quê Hương Kẻ Sặt nói riêng, tuy trong khoảng thời gian 9 năm,
nhưng đã có biết bao biến chuyển vũ bão, như sẽ lược thuật sau đây:
Ngày 10-3-45, Bảo Ðại xé Hòa Ước Giáp Thân 1884, và Việt Nam trở thành một Quốc Gia Ðộc Lập trong Khối Thịnh Vượng Chung Ðông Nam Á.
Ngày 17-4-45, ông Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các. Ðó là chính phủ
quốc gia đầu tiên, theo thể chế tây phương.
Nhưng bộ tham mưu Nhật ở Việt Nam vẫn giữ những cơ quan hành chánh quan
trọng. Chính sách cũng hà khắc không kém thực dân Pháp. Người ta gọi là
Phát Xít Nhật.
Tháng 8 năm 45, hai trái bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ tàn phá hai đảo Hiroshima và Nagasaki. Nhật Hoàng xin hàng vô điều kiện.
Thi hành quyết nghị của hội nghị Postdam, quân Anh giải giới quân Nhật ở
phía nam Việt từ Vĩ Tuyến 16 và quân Tàu giải giáp quân Nhật ở phía bắc
Việt từ Vĩ Tuyến 16.
Thế là Kẻ Sặt lại gặp nạn ''Tàu phù'' trú đóng, sau nạn phát xít Nhật.
Ngày 17-8-1945, Tổng Hội Công Chức Bắc Kỳ tổ chức
tại Nhà Hát Lớn Hà Nội một cuộc biểu tình đòi
Nhật trả độc lập thực sự cho Việt Nam. Cán bộ Việt Minh trà trộn
vào Ban chấp hành Tổng hội, chiếm máy phóng thanh, trương cờ đỏ sao vàng
để biến thành cuộc biểu tình của họ.
Thế rồi từ trung ương đến địa phương, Mặt Trận Việt Minh cướp
được chính quyền, không tốn một viên đạn, thành lập Chính Phủ Cách
Mạng lâm thời.
Kẻ Sặt là một trong những địa phương thời đó cũng bừng bừng trong khí thế ''cách mạng mùa thu''. Một cuộc biểu tình vĩ đại được tổ chức tại công viên Huyện Bình Giang tọa lạc ngay Thị Xã Kẻ Sặt, với rừng cờ và biểu ngữ, với những lời hô vang dậy vì lòng yêu nước thiết tha, mà chưa mấy ai biết được những âm mưu và sự lợi dụng...
Rồi ''Tuần Lễ Vàng'' diễn ra tại nhà ''Xéc'' (Cercle, phòng hội hình vòng tròn), thu góp biết bao tài sản nữ trang như: hoa tai, nhẫn, dây chuyền, vàng vòng v.v... cho tinh thần ái quốc...
Cũng trong thời gian này, các đoàn thể yêu nước được thành lập như: Thanh Niên Cứu Quốc, Phụ Nữ Cứu Quốc, Công Giáo Cứu Quốc, Việt Nhi v.v...Thanh thiếu niên thi đua học tập quân sự, hội họp, ca hát, đeo súng gỗ, đội mũ chào mào bằng giấy xi măng...
Phong trào ''Bình
Dân Học Vụ'' với phương pháp '' i tờ'' đã giúp nhiều người biết
đọc biết viết.
Hoạt động thể thao cũng như kịch nghệ của thanh niên Kẻ Sặt rất sôi
nổi hào hứng.
Do ảnh hưởng của cao trào quốc gia mới, nên thiếu niên từng khu xóm đã
kết hợp lại thành những đảng riêng, được trang bị gậy gộc, gươm
giáo và lựu đạn ứng chế (bằng tro và mảnh chai) để đánh nhau. Ba nhóm kình chống dữ dội thuộc Khu Hạ, Khu Trung và Khu Thượng.
Chính quyền xã lúc đó cũng đành bất lực trong việc
duy trì trật tự.
Riêng Phong Trào Phụ Nữ Kẻ Sặt Cứu Quốc mới độc đáo, với sự kiện người chỉ huy là cô Bốn Hạnh đứng trên bậc điếm tuần, mặc "quần ống ngắn" (short), đeo kiếm và thổi còi.
Cùng với phong trào các đoàn thể quốc gia, có một hội đoàn Công Giáo tiến hành với khẩu hiệu '' Thiên Chúa và Tổ Quốc'' được hình thành. Ðó chính là Hội Nam Thanh Công Giáo, Ðịa phận Hải Phòng.
Ðặc biệt, Ban Quản Trị
tiên khởi của hội lại hoàn toàn do thanh niên xứ Sặt đảm trách. Hội
đoàn này đã có những hoạt động tích cực, nhất là đã tổ chức một
cuộc mít tinh lớn lao tại công trường nhà hát lớn,
thành phố cảng Hải Phòng, để đòi hỏi nhà cầm quyền phải tôn trọng
Tự Do Tín Ngưỡng.
Trong khuôn khổ giải quyết cuộc Ðệ Nhị Thế Chiến của Quốc Tế, khi quân Anh giải giới quân Nhật ở phía nam Việt từ vĩ tuyến 16, thì quân Pháp núp theo quân Anh để trở lại Việt Nam.
Ngày 6-3-1946, chính phủ Việt Minh ký Hiệp Ðịnh Sơ Bộ, công nhận cho Pháp đem quân đổ bộ lên Hải Phòng và đóng ở những địa điểm trọng yếu mà thay thế quân Trung Hoa. Ðây chính là nguyên nhân của cuộc chiến tranh Việt Pháp kéo dài từ 1946 đến 1954.
Sau những cuộc thương thuyết Việt Pháp bất thành và ý đồ tái chiếm Ðông Dương của Pháp đã gây nên nhiều vụ rắc rối.
Lúc 8 giờ tối ngày
19-12-1946, Việt Minh tổng tấn công Pháp. Chiến
tranh chính thức bùng nổ.
Cuộc chiến lan tới Kẻ Sặt. Lúc đầu, thanh niên tự vệ Sặt cũng chống
lại Pháp, nhưng rồi chỉ còn bộ đi V.M. Họ dùng ngọn tháp giữa của
nhà thờ Kẻ Sặt (1) làm pháo đài cố thủ. Từ
đồn Cầu Sắt, Quân Pháp bắn ''canon'' làm gẫy gọng vó, 7 bộ đội quyết
tử bị hạ sát.
Sau trận máy bay Pháp dội bom
làng Chanh, dân làng ta mới chịu bỏ nhà cửa, ruộng vườn mà gồng gánh
tản cư đi các làng: Hà, Ðầng, Quàn, Cao Xá, Từ Xá, Phương Quan, Minh Châu
thuộc huyện Thanh Miện.
Có một bài thơ theo thể song thất lục bát gọi là Bài Ca Tản Cư , tác
giả là ông Khóa Thanh đã ghi lại giai đoạn lịch sử này...
Chiếm được nhiều địa phương quan trọng trong đó có Kẻ Sặt là hàng đầu. Giữa năm 1947, Pháp lập ''Hội Tề''(2) để chiêu dụ dân các làng tản cư trở về. Nhiều người đã hồi cư về thành hay làng cũ. Dân làng Kẻ Sặt dần dà cũng trở về hết để làm ăn sinh sống ở nơi xưa, dưới Thể Chế Quốc Gia đang hình thành...
Nhưng không khí chiến tranh vẫn còn phủ đày. Mọi nhà phải nỗ lực với công tác củng cố hào lũy và các pháo đài để chống lại Việt Minh, thường gọi là Vẹm. Pháo đài hay bốt (poste) là các cổng làng như Cổng Giỏ, Cổng Kẻ, Cổng Ðằng Ngái, Cổng Nhà Mụ v.v...
Cứ mỗi chiều tối đến, già trẻ, lớn bé lại phải vác chiếu chăn lên nhà thờ ngủ vì sợ Việt Minh xâm nhập vào ban đêm bắt đi hay giết hại. Một số người đã bị giam tại huyện Quỳnh Côi.
Nhiều trận đánh dữ dội và oai hùng giữa dân làng ta với Việt Minh đã diễn ra trong khoảng hai năm 1947 và 1948. Ðiển hình nhất là những trận đánh sau:
- Trận Giàng Dóc: Khoảng giữa năm 1947, vào một đêm tấn công, V.M. đã đặt mìn phá xập một gian nhà rẫy để xâm nhập thánh đường. Với sức mạnh của tinh thần đoàn kết và ý chí quyết giữ vững làng xóm, nhất là thánh đường, nên chỉ bằng gậy gộc mà dân làng ta đã chống trả hữu hiệu trước mọi cuộc tấn công của địch. Dân gian gọi đó là những Trận Giàng Dóc. Có cả một Bài Vè Giàng Dóc còn lưu truyền...
- Trận Ðốt Nhà Cha: Cuối năm
1947, Việt Minh lại mở cuộc tổng công kích Nhà Xứ và Thánh Ðường. Chúng
phóng hỏa đốt nhiều gian nhà xứ, kể cả nhà hai tầng. Cậu Núi đã bị
chúng lia mã tấu trong bóng đêm, khiến cho cậu bị nhiều vết trọng thương
nơi đầu, mà vẫn được Chúa gìn giữ. ( Sau người đã trở thành Cha Sơn,
vị mục tử rất bình dị và có lòng với quê hương ).
Về phía Thánh Ðường, nhiều khẩu súng bắn chỉ còn một viên đạn chót.
Nhưng cuối cùng, địch đã phải rút lui. Thầy Hiện
lúc đó trở thành một vị chỉ huy quân sự can trường. Anh Phạm Văn Lùng là thanh niên duy nhất bị tử thương
bởi một viên đạn của địch bắn vào. Cả làng tiếc thương anh là một
chiến sĩ kiên cường.
- Ðầu năm 1948: - Nhiều đợt tiến công phá tề khác của Việt Minh vào làng Sặt đều thảm bại. Tại chân các pháo đài cổng làng, địch từng bỏ thây vì lựu đạn ném ra. Có trận chúng xâm nhập vào nhà cụ Lang Nghi để làm cứ điểm tấn kích Thánh Ðường, nhưng chúng bị bao vây cho tới sáng mà không thoát được, rồi viện binh Pháp từ Cầu Sắt sang, và hàng chục tên đã bị hạ.
- Nhiều trận tấn công vào nhà thờ còn tái diễn... Chúng dùng kèn thúc quân nghe rất rùng rợn. Nhưng sự kiên quyết, lòng cậy trông của giáo dân còn mạnh mẽ hơn. Có lần địch bắn bazoka lên thủng cả tháp chuông. Cha xứ Chấn đã phải giải tội tập thể cho mọi người trú trong nhà thờ. Những hồi chuông từ ba cây tháp luôn đổ từng hồi linh thiêng, và cũng là những tiếng báo động. Và Tây từ đồn Cầu Sắt đã tiếp ứng hữu hiệu.
- Không bao giờ Việt Minh đạt được mục đích chiếm làng hay chiếm nhà thờ. Có nhiều tên Việt Minh khi đầu hàng đã khai rằng ban đêm khi xâm nhập làng, họ thường thấy một Bà Áo Trắng cầm gươm thấp thoáng lướt trên những ngọn tre bao quanh làng. Quả thực, Nữ Vương Văn Côi, đấng bổn mạng của giáo xứ Kẻ Sặt, đã bảo vệ dân xứ chúng ta trong suốt thời kỳ đen tối đó vậy.
- Ðối với Việt Minh thì như
thế...Nhưng đối với quân đội viễn chinh Pháp tuy gọi là đồng minh lại
cũng chẳng hơn gì. Dân làng ta lâm vào cảnh sống một
cổ hai tròng, như lời mô tả trong Bài Ca Tản Cư:
''Nửa sợ Việt, nửa sợ Tây;
Sợ Việt trông thấy, sợ Tây nghi ngờ''.
- Ban ngày, mỗi khi nghe tiếng súng kêu ''tắc, bọp'' là mọi người biết Tây sang, tức là họ từ đồn bên kia Cầu Sắt sang sông để đi càn các làng. Tây là cách gọi thông thường quân đội viễn chinh Pháp khi trở lại Việt Nam, cũng gọi là quân Lê-Dương (Légion étrangère francaise) gồm những tù binh của Pháp sau đệ nhị thế chiến, từ các nước Ðức, Ý, gọi là tây trắng và Maroc, Algérie, Sénégal, gọi là tây đen.
Dân chúng lại một phen chậy trốn vào Nhà Cha, Nhà Mụ. Có người bị bắn chết vì Tây nghi ngờ là V.M. Có người cứ nói ''Con lậy quan lớn'' để được tha, nhưng chúng có hiểu đâu. Còn phụ nữ thì vô cùng lo sợ bị chúng làm hại cuộc đời...
- Một số người lại phải đi tản cư nữa. Nhưng lần này họ không còn đi về vùng kháng chiến, mà đi tới vùng thành thị như Hải Phòng, Hòn Gai để lánh nạn và làm ăn.
5 Ðời Sống Vật Chất Và Tinh Thần
- Cơ quan quân sự ở tại cơ sở Huyện Bình Giang trước ngoài phố Sặt, nay gọi là Bốt Ðỏ (Poste Rouge), vì quét vôi mầu đỏ. Vị trí này cũng gọi là Tiểu Khu (secteur), đảm trách hành quân một vùng rộng lớn thuộc hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên.
- Quận hành chánh quốc gia đặt tại nhà Cụ Trùm Quế ở Khu Hạ, gọi là Quận Chi Khê.
- Một hội đồng tề được
chỉ định gồm quý ông:
Ông Tiên Khuể,
Ông Tổng Pháp,
Ông Lý Cử.
Nhiệm vụ của các giới chức này thật vô cùng khó khăn và nguy hiểm,
vì không những phải giúp đỡ dân trong buổi giao thời nhiều việc rắc rối,
lại phải nương theo ý muốn của quân đội Pháp nữa. Nhất là còn thêm
mối lo lắng bị Việt Minh thanh toán. Và quả thực, ông Tiên Khuể đã là
một nạn nhân đầu tiên; kế đó là ông Bạ Sâm.
Tình trạng phũ phàng do Tây đòi hỏi và tệ nạn bắt bớ của nhóm tay sai Pháp gọi là Phòng Nhì (Deuxième Bureaux) còn là nỗi hãi hùng cho nhiều người có máu mặt trong làng. Thật là một thời buổi nhố nhăng, vô trật tự và bất an ninh.
Năm 1949, cựu hoàng Bảo Ðại đang sống lưu vong tại Hồng Kông trở về nước, xác lập Chính Thể Quốc Gia Việt Nam trong Khối Liên Hiệp Pháp. Thực tế là cai trị các vùng do Pháp kiểm soát trên toàn lãnh thổ Bắc, Trung, Nam. Rồi Quân Ðội Quốc Gia được thành hình. Người thanh niên Kẻ Sặt đầu tiên là anh Phạm Văn Ðĩnh được vận động theo học khóa 1, Trường Sĩ Quan Việt Nam tại Huế. Một số thanh niên khác đã trúng tuyển vào Trường Võ Bị Ðịa Phương Hà Nội (École militaire régional). Còn số đông vào Cảnh Sát thành phố và nhập ngũ Vệ Binh Bắc Phần (Garde Viet Nam Nord).
- Giai đoạn từ năm 1949 đến
năm 1952, các vị sau đây đã lãnh nhận trách nhiệm quản trị làng xã Kẻ
Sặt:
Ông Lý Tròn,
Ông Lý Nhượng,
Ông Lý Tính.
Một số sự kiện đáng ghi trong công cuộc xây dựng cộng đồng Kẻ Sặt
vào thời kỳ này như:
- Trường Trung Tiểu Học Văn Côi do cha xứ Liêm sáng lập đầu năm 1949.
- Cùng thời gian này, các hội đoàn công giáo tiến hành được tái lập, nhất là Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể.
- Cuộc rước vĩ đại Ðức Mẹ Fatima ngày 11 tháng 10 năm 1950.
- Khánh thành nghĩa trang mới Kẻ Sặt ngày 17 - 12 - 1951.
- Cây tháp giữa được tu sửa và đặt Tượng Chúa Giêsu Vua năm 1952, dưới thời cha Lê Duy Thức. Ðức Giám Mục Trương Cao Ðại, giám mục tiên khởi Ðịa Phận Hải Phòng về khánh thành.
- Nhà giải trí Ánh Sáng (rạp xinê) được xây cất ở giữa Khu Trung và Khu Hạ, thường chiếu phim.
- Chợ Sặt được di chuyển ra Cầu Xộp vì nhu cầu quân sự.
Năm 1953, tình hình vùng quốc gia đã trở nên ổn định hơn. Nền hành chánh địa phương được cải tổ, do đó chức vụ Lý Trưỏng ở xã không còn nữa mà được thay thế bằng ''Chủ Tịch Hội Ðồng Hương Chính Xã''.Õ Ông Bá Kiệm đang tản cư ở Hải Phòng lại được triệu hồi về làng, để lãnh nhận trách nhiệm này, sau 8 năm gián đoạn công vụ.
Trong chánh quyền xã theo tổ chức mới, còn có Ðịa Phương Quân và Cảnh Sát.
Thời kỳ này, đời sống dân làng đang trên đà phát triển về mọi mặt. Nhà cửa bốn khu đều được tái thiết. Nhiều cửa tiệm ở ngài Phố buôn bán sầm uất. Chợ Cầu Xộp vẫn thu hút đông đảo dân các vùng lân cận. Ruộng vườn được cầy cấy trồng trọt trở lại, với cuộc trắc nghiệm dẫn thuỷ nhập điền đầu tiên. Nói chung, đời sống bình thường thời tiền chiến được phục hồi dần.
Tuy nhiên, tới tháng 7 năm 1954, biến cố chia đôi đất nước xẩy ra do Hiệp Ðịnh Genève, đã khiến cho Quê Hương ta phải đi vào một khúc quanh lịch sử, tuy đau buồn, gian lao nhưng cũng đầy triển vọng và hào hùng.
Ðó là Cuộc
Di Cư lớn lao vào Miền Nam, sẽ xin tường thuật vào kỳ sau.
Vi-Sơn
(1) Xin đọc thêm các đoạn:
(2)
"Ấm ớ Hội Tề, sáng đi có dép, tối về chân không". câu này để ám chỉ những người đi buôn lậu. Họ mặc quần áo trong người lúc đi, để bán, nên về thì không còn gì.
"Ấm ớ Hội Tề, chính phủ gọi về, ra chiều bất mãn". Những người đang làm ăn ở vùng sôi đậu, bên "ni" bên "tê" nên họ không muốn trở về vùng khác.