VietCatholic News (Thứ Sáu 11/04/2008 12:52)
Nói đến Quảng Trị mà không nói đến La Vang
là một điều thiếu sót. Bởi vì ít ai là dân Quảng Trị mà không
nghe nói đến địa danh La Vang. Không những thế, La Vang đã là
nơi mà từ Bắc chí Nam nhiều người biết đến, không chỉ là người
Công Giáo mà cả đồng bào ngoài Công Giáo nữa. Ngày nay, trên
thế giới nhiều người cũng biết đến La Vang. Ở đất Mỹ cũng đã
có những ngôi nhà thờ lấy danh hiệu Đức Mẹ La Vang.
Người
lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo La Mã: Đức Gioan Phaolô II cũng đã
nói đến linh địa La Vang sau buổi phong thánh cho 117 vị Tử
Đạo Việt Nam vào ngày 19-06-1988, ở quảng trường Thánh Phêrô
La Mã, trong buổi đọc kinh truyền tin, Ngài đã ngỏ lời với
Giáo Hội Toàn Cầu vì sự hiện ra của Đức Mẹ tại La Vang năm
1798... Vào ngày 28-11-1992, trong buổi triều yết chung cho
các phái đoàn Công Giáo khắp nơi về Rôma, lại một lần nữa Đức
Gioan Phaolô II đề cập đến đền thờ Đức Mẹ La Vang thuộc Giáo
Phận Huế. Đặc biệt, sau khi chủ tế thánh lễ bế mạc đại hội
giới trẻ vào chiều 15-08-1993 tại Denver (Hoa Kỳ), Đức Gioan
Phaolô II đã ưu ái dành một giờ để tiếp xúc riêng với khoảng
20,000 bạn trẻ và người Việt Nam ở Hải Ngoại đang có mặt tại
Denver. Dịp này Ngài đã gởi cho toàn thể giới trẻ, Giáo Hội và
dân tộc Việt Nam một thông điệp. Trong phần cuối cùng của
thông điệp Ngài đã nói đến Đức Mẹ La Vang: “Tôi xin phó thác
toàn thể cộng đồng Công Giáo Việt Nam dưới sự bảo trợ của Đức
Mẹ La Vang, Ngài là Mẹ yêu thương, năm 1798 hiện ra an ủi
những người giáo dân hồi đó bị Văn Thân bách hại. Giáo Hội tại
Việt Nam đã được dâng hiến cho Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ Maria.
Giờ đây sắp sửa đến ngày kỷ niệm 200 năm biến cố nói trên. Ước
gì thời gian chuẩn bị lễ đệ nhị bách chu niên này cũng là thời
gian tăng cường Đức Tin sốt sắng và hăng say sống đời Công
Giáo, là thời gian liên kết với Giáo Hội bên nhà, thời gian
lưu niệm quá khứ, nhưng cũng là thời gian chuẩn bị một tương
lai sáng sủa hơn cho các thế hệ mới của người Việt Nam. Cầu
chúc cho họ lớn lên với niềm hiên ngang lành mạnh xứng với
nguồn gốc Quốc Gia, với nền văn hóa sung mãn, với sự lớn mạnh
của tổ tiên họ xưa kia, vẫn hùng tráng trước mọi thử thách
gian truân...”
Thật ra người dân Quảng Trị, không kể thuộc tôn giáo nào, cũng
đáng hãnh diện với vùng đất La Vang, nơi mà nhiều người trên
thế giới đã biết đến.
Vậy La Vang là nơi nào? Trở về thời xa xưa, La Vang là nơi
rừng núi hẻo lánh có nhiều cây “lá vằng”, có thú dữ, nằm về
phía Tây cách đồn Dinh Cát, về sau là tỉnh lỵ Quảng Trị, bốn
cây số và cách Phú Xuân, tức Kinh Đô Huế, 58 km về phía Bắc.
Theo địa bộ của làng Cổ Vưu được lập đời nhà Lê và được quản
tu lại đời Gia Long có ghi tên “phường Lá Vằng”. Sở dĩ gọi vậy
là vì nơi đó có nhiều lá vằng, một loại cây mà người phụ nữ
lúc sinh đẻ thường nấu nước, có vị đắng, để uống như một vị
thuốc, rồi đọc trại ra là La Vang. Có người cho rằng gọi là La
Vang vì ngày xưa nơi rừng rú có cọp, beo, thú dữ nên mỗi lần
các toán người đi làm củi ngang qua phải la vang để thú dữ lẫn
tránh.
Dở lại những trang sử đau thương của đất nước từ năm
1765-1801, nhận thấy trăm họ lầm than, dân tình khổ sở vì nạn
đói kém, chiến tranh. Đối với người Công Giáo lại còn bị bắt
bớ, tù đày, giết chóc. Theo truyền thuyết thì Đức Mẹ đã hiện
ra tại La Vang trong thời gian đen tối đó, tuy không rõ năm
nào, nhưng theo truyền khẩu, nhiều người cho rằng Đức Mẹ đã
hiện ra dưới thời vua Cảnh Thịnh triều Tây Sơn vào năm 1798.
Ngày 17-08-1798 vua Cảnh Thịnh, con của vua Quang Trung, ra
sắc dụ cấm đạo từ Phú Xuân đến Bắc Hà, lệnh cho tiêu diệt đạo
Giatô, là đạo ngoại quốc, phải triệt hạ các đạo đường, đạo
quán và tróc nả các đạo trưởng. Để trốn tránh sự bắt đạo của
quan quân Tây Sơn, giáo dân xứ Trí Bưu (Cổ Vưu), xứ Thạch
Hản... đã trốn vào ẩn náu trong “phường Lá Vằng”. Họ phá rừng
làm rẫy, có người đã làm trại để giữ hoa màu. Và theo truyền
thuyết, đêm đêm họ họp nhau đọc kinh lần chuỗi. Và bỗng nhiên
vào một đêm, họ thấy một bà đẹp, tay bồng chú bé xuất hiện ở
một cây đa cổ thụ, có hai vị cầm đèn chầu. Họ nhận ra đó là
Đức Mẹ bồng Chúa Hài Đồng, có hai thiên thần chầu. Đức Mẹ đã
ngỏ lời an ủi họ, bảo họ hái lá cây xung quanh mà uống sẽ được
lành bệnh và hứa rằng ai đến cầu khẩn tại chốn này Ngài sẽ ban
ơn. Đức Mẹ còn hiện ra nói với họ nhiều lần...
Dĩ nhiên, như trong bài diễn thuyết của Đức cố Giám Mục Hồ
Ngọc Cẩn nói về sự tích La Vang đã nêu lên vấn đề như sau: “Sự
tích về La Vang chúng tôi có biết đặng ít nhiều thì bởi truyền
khẩu chứ không bởi truyền thơ. Những điều truyền khẩu về Đức
Mẹ La Vang thật hư thế nào, mặc ai tự nghĩ. Chúng tôi chỉ luận
chung rằng: có tích mới dịch ra tuồng. Nay việc La Vang đã ra
như một việc lớn lao thế này, lẽ nào là một việc vô tông vô
tích”.
Năm 1802, Gia Long thống nhất sơn hà. Việc đạo tạm yên. Sự
tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang được truyền miệng khắp các xứ
đạo vùng Dinh Cát. Người ta còn kể rằng người lương đi làm rú
đến La Vang sau bị “động” nên rút lui, nhường lại cho giáo
dân. Và do đó trước năm 1885, La Vang đã có một nhà thờ kính
Đức Mẹ. Nhà thờ này, cũng theo khẩu truyền: ngày 9-8-1885 đã
bị cha con tên Mẹo dựa thế Văn Thân đốt cháy, nhưng ngay chiều
hôm đó, Văn Thân đến thiêu sống cả gia đình ông ta.
Từ đó, La Vang một danh từ bắt đầu quen thuộc và trìu mến của
giáo dân giáo phận Huế, rồi nhanh chóng vang danh khắp Việt
Nam. Không ai là Công Giáo trong toàn quốc mà không nghe nói
đến Mẹ La Vang.
Năm 1886 Đức Cha Gaspar (Lộc) cho xây đền thờ ngói, 15 năm mới
hoàn thành, vì địa điểm núi non nên vận chuyển vật liệu khó
khăn. Năm 1901, đại hội La Vang đầu tiên được tổ chức vào ngày
08-08 để mừng khánh thành nhà thờ. Dịp nầy, Đức Cha Gaspar đã
chọn bổn mạng cho thánh đường La Vang với tước hiệu: “Đức Bà
Phù Hộ Các Giáo Hữu” và đã quy định về các cuộc kiệu ở La Vang
như sau: mỗi năm kiệu Đức Mẹ một lần vào ngày mồng 3 tết
nguyên đán gọi là kiệu minh niên và cứ ba năm mở đại hội ba
ngày trong tuần lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Tục lệ này vẫn
được tôn trọng và thi hành cho đến ngày nay.
Năm 1924, Đúc Cha Allys (Lý) cho phép Linh Mục Morineau (Cố
Trung), cha sở họ Cổ Vưu (Trí Bưu) cất một ngôi thánh đường
rộng lớn. Ngôi nhà thờ ấy còn cho đến năm 1972, rồi bị chiến
tranh tàn phá.
Năm
1949-1954, La Vang nằm trong vùng kiểm soát của phe Việt Minh,
giáo hữu La Vang tản cư ra thị xã Quảng Trị thì đồng bào ở
vùng lân cận như Long Hưng, Phú Hưng lại đến quây quần chung
quanh đền Đức Mẹ. Một điều lạ lùng là trong vòng hai năm
(1949-1950) có gần 1,000 người lương trở lại Công Giáo, dưới
thời cha Giacôbê Nguyễn Linh Kinh làm cha sở ở linh địa La
Vang (1946-1955).
Năm 1954 hiệp dịnh Gienève chia đôi đất nước, La Vang nằm về
phía Nam vĩ tuyến 17. Cảnh hành hương bắt đầu nhộn nhịp...
Nhiều người, nhiều đoàn thể từ Bến Hải đến Ca Mau thay phiên
nhau đến kính viếng Đức Mẹ.
Ngày 22-08-1961, Hội Đồng Giám Mục miền Nam đã long trọng
tuyên bố tại La Vang là chọn đền thờ Đức Mẹ La Vang làm “đền
thờ toàn quốc dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ” và nhận linh
địa La Vang làm “Trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc”. Công trình
xây dựng trung tâm bắt đầu trong năm 1962 đến năm 1964 với sự
tích cực đóng góp của giáo dân khắp nơi. Cùng trong ngày
22-08-1961, ngày bế mạc đại hội, sắc Tòa Thánh Vatican nâng
đền thờ Đức Mẹ La Vang lên bậc Vương Cung Thánh Đường đã được
rước từ nhà thờ Trí Bưu vào theo nghi lễ đặc biệt Á Đông.
Năm 1972, chiến tranh quốc cộng giữa Nam Bắc khốc liệt xảy ra
ở Quảng Trị, La Vang bị tàn phá nặng nề. Bao công trình kiến
tạo đều bị bom đạn san bằng, ngôi thánh đường còn một nữa phía
sau, chỉ trừ ba cây đa nhân tạo nơi đài Mẹ, tục truyền là nơi
Mẹ đã hiện ra là còn nguyên vẹn.
Mùa xuân 1974, Đức Mẹ thánh du Đạo Binh Xanh quốc tế tổ chức
đã đến La Vang trong cảnh hoang tàn, nhưng rất đông con cái mẹ
đến kinh viếng.
Từ sau năm 1975, mặc dù hoàn cảnh có khó khăn, chính quyền
Cộng Sản cấm ngặt những sự tụ tập ở linh địa La Vang, tuy thế
con cái Mẹ không riêng gì ở giáo phận Huế mà nhiều nơi trong
nước Việt Nam, vẫn tìm cách về bên Mẹ.
Mãi đến năm 1990, chính quyền thấy rằng việc nghiêm cấm giáo
dân hành hương “về bên Mẹ” là bất lợi, nên chính quyền huyện
Triệu Hải (tỉnh Quảng trị) cho phép tổ chức đại hội trong sự
hạn chế tối đa. Văn bản cho phép của huyện chỉ có trước một
tuần lễ, và chỉ cho phép linh mục E. Nguyễn Vinh Gioang, cha
sở Diên Sanh kiêm linh địa La Vang đứng ra điều hành thôi. Bởi
đó, về mặt tổ chức chẳng có gì. Điện đèn lờ mờ chẳng ra sao,
máy móc âm thanh phát tiếng cũng èo uột... nhưng về mặt tinh
thần đạo đức của trên 20,000 giáo dân lên đến tột độ.
Năm 1993, đại hội lần thứ 23 diễn ra từ thứ năm 12 tháng 8 đến
15-08-1993. Đại hội lần này tuy còn bị hạn chế nhưng cũng được
rộng mở hơn, lý do chính quyền CS nhận thấy có lợi về mặt
chính sách và vật chất, chỉ riêng việc độc quyền giữ xe cũng
đã thâu được mấy triệu đồng, chưa kể việc cho thuê đất để các
quán xá dựng lên...
Ngày bế mạc có gần 50 ngàn con Mẹ từ Hà Nội, Bắc Ninh, Hà
Tĩnh, Sài Gòn, Đà Lạt, Gia Lai, Kontum, Đà Nẵng cùng với giáo
dân Huế cung nghinh Mẹ qua các con đường quanh linh địa, có cả
trên 100 đơn vị.
Hôm nay, ở quê người, nhớ về Quảng trị, nơi chôn nhau cắt rốn,
một tỉnh miền Trung tuy nghèo nàn nhưng đậm đà biết bao tình
quê hương. Tôi cầu xin cho quê hương tôi thoát khỏi bao đau
thương, một ngày nào được trở về sống những ngày còn lại của
cuộc đời để rồi được chết chôn trong lòng đất Mẹ.
(Trích Đặc San Quảng Trị)