|
Diễn văn nhận giải Nobel 1979 Oslo, Na Uy của Mẹ Têrêxa |
"Ngươi
thấy không!
Ta sẽ không quên ngươi…
Ta đã ấp ủ ngươi trong lòng bàn tay Ta…
Ta đã gọi tên ngươi…
Ngươi thuộc về Ta…
Ngươi rất quí giá đối với Ta…
Ta yêu thương ngươi." (Isaia)
Khi chúng ta cùng qui tụ nơi đây để cảm tạ Thiên Chúa về Giải Nobel Hòa Bình, tôi nghĩ sẽ thật tuyệt vời nếu chúng ta cùng cầu nguyện bằng lời kinh của thánh Phanxicô Assisi, một lời kinh luôn làm tôi ngạc nhiên rất nhiều.
Chúng tôi đọc kinh này hằng ngày sau khi Chịu Lễ, vì kinh ấy rất phù hợp cho mỗi người chúng tôi. Và tôi vẫn lấy làm lạ rằng cách đây 400-500 năm, khi thánh Phanxicô Assisi soạn lời kinh này, thì người ta vẫn có những khó khăn giống chúng ta hiện nay như khi chúng tôi soạn lời kinh này cũng rất phù hợp cho chúng tôi.
Tôi nghĩ rằng một số anh chị em đã nhận được kinh ấy rồi - vậy chúng ta hãy cùng cầu nguyện. (1)
Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa về cơ hội mà tất cả chúng ta có được ngày hôm nay, về quà tặng hòa bình này. Một món qùa nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta được tạo dựng để sống trong bình an đó, và Chúa Giêsu đã làm người để đem tin mừng ấy đến cho người nghèo.
Tuy là Thiên Chúa, Ngài đã làm người trong mọi sự như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi, và công bố rõ ràng là Ngài đến để trao ban tin mừng. Tin ấy chính là bình an cho mọi người thiện tâm và đây là điều mà chúng ta muốn - bình an trong lòng.
Thiên Chúa đã yêu thương thế gian nhiều đến nỗi ban con một mình - đấy là một ân ban: cứ như thể bảo rằng Chúa rất đớn đau khi phải cho đi như thế, vì Người yêu thương thế gian đến nỗi ban tặng người con của Người. Người tặng người con của mình cho Đức Trinh Nữ Maria, và Mẹ đã làm gì với người con ấy ?
Ngay khi Ngài đi vào cuộc đời của Mẹ, Mẹ lập tức vội vàng đi trao tặng tin mừng đó, và khi Mẹ vừa bước vào nhà của bà chị họ, hài nhi - hài nhi trong lòng bà Êlisabét - nhảy mừng. Cậu ấy, thai nhi ấy, là sứ giả đầu tiên của bình an. Cậu nhận ra Đấng Hoàng Tử của Bình An, cậu nhận ra rằng Đức Kitô đã đến để đem tin mừng cho anh chị em và cho tôi. Và cứ như là chưa đủ - làm người thôi thì chưa đủ - Ngài phải chết trên thập giá để biểu lộ tình yêu cao vời hơn:
Ngài đã chết cho anh chị em và cho tôi và cho người phung hủi kia và cho người đang chết đói kia và cho người trần truồng kia đang nằm ngoài đường phố, không chỉ tại Calcutta, nhưng còn tại Phi Châu, tại New York, tại London và Oslo - và Ngài tha thiết yêu cầu chúng ta yêu thương nhau như Ngài yêu thương mỗi một chúng ta.
Chúng ta đọc điều này rõ ràng trong Phúc âm: “Hãy yêu thương như Thầy đã yêu thương các con; như Thầy đang yêu thương các con; như Cha của Thầy đã yêu thương Thầy”. Chúa Cha tha thiết yêu thương Ngài, mà vẫn trao tặng Ngài cho chúng ta, và nếu chúng ta tha thiết yêu thương nhau, thì chúng ta cần phải trao ban cho nhau đến độ cảm thấy đớn đau.
Nếu chỉ nói thế này thôi thì chưa đủ “Tôi yêu mến Chúa nhưng không yêu thương người lân cận.” Thánh Gioan bảo rằng bạn là một người nói dối nếu bạn bảo rằng bạn yêu mến Chúa mà lại không yêu thương người lân cận. Làm thế nào bạn có thể yêu mến Chúa mà bạn không thấy, nếu bạn không yêu thương người lân cận mà bạn nhìn thấy, mà bạn tiếp xúc đụng chạm, mà bạn chung sống? Vì thế, chúng ta nhất thiết phải ý thức rằng một tình yêu, nếu nó chân chính, thì sẽ làm cho chúng ta đớn đau.
Chúa Giêsu đau đớn khi yêu thương chúng ta. Ngài đau lắm. Và để đảm bảo chúng ta ghi nhớ tình yêu vĩ đại đó, Ngài đã hóa mình thành bánh hằng sống để xóa tan cơn đói của chúng ta vào tình yêu của Ngài - đói Thiên Chúa - vì chúng ta được dựng nên cho tình yêu đó. Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.
Chúng ta được tạo dựng để yêu và được yêu, và Ngài đã mặc lấy xác phàm để cho chúng ta có thể yêu như Ngài đã yêu thương chúng ta. Ngài hóa mình thành kẻ đói khát, kẻ mình trần, kẻ không nhà, và Ngài bảo: “Con đã làm điều đó cho Thầy”.
Ngài đang đói tình yêu của chúng ta, đó là cái đói mà anh chị em và tôi cần phải nhìn thấy. Và cái đói đó Nó có thể ở hiện diện ngay trong nhà mình.
Tôi không bao giờ quên được lần tôi đi thăm viếng một ngôi nhà ở đó có các cha mẹ cao niên của những người con từng đưa họ vào trong một cơ sở xã hội rồi quên họ đi, có thể là như thế. Khi tôi đến đấy, tôi thấy trong nhà này có đủ mọi thứ, mọi thứ đẹp đẽ, nhưng ai ai cũng đều đưa mắt nhìn ra cửa. Tôi không thấy được một gương mặt nào nở lên nụ cười. Tôi quay sang người nữ tu và tôi hỏi: “Sao lại như vậy? Sao những người này có đủ mọi thứ mà cứ nhìn ra cửa vậy? Sao họ lại không tươi cười?” Tôi đã quen nhìn thấy nụ cười trên gương mặt những người dân tôi, ngay cả người hấp hối cũng mỉm cười. Và chị ấy trả lời: “Điều này xảy ra hầu như hằng ngày. Họ trông mong, họ hy vọng rằng một người con trai hay con gái của mình đến thăm. Họ đớn đau vì bị bỏ quên ” Và anh chị em thấy đó: đấy là nơi mà tình yêu đến.
Sự nghèo khó đến ngay tại đây, ngay trong nhà anh chị em, đó chính là nơi mà ta đã hờ hững với tình yêu. Có thể ngay trong nhà anh chị em đang có một một ngưòi cảm thấy cô đơn, cảm thấy đau yếu, cảm thấy lo âu, và ai ai cũng gặp những ngày khốn khó. Chúng ta có mặt ở đó không? Chúng ta có mặt để tiếp họ không? Người mẹ có mặt để đón nhận con mình không?
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy ở Phương Tây rất nhiều thanh niên thiếu nữ buông mình vào ma túy. Tôi cố gắng tìm hiểu vì sao. Vì sao lại như vậy? Và đây là câu trả lời: “Vì không có ai trong gia đình đón nhận họ”. Cha mẹ thì quá bận bịu nên không còn thời gian. Những cha mẹ trẻ bận ở cơ quan, còn đứa trẻ chạy hoang ngoài đường phố rồi dính líu vào một điều gì đó.
Chúng ta đang nói về hòa bình. Đấy là những điều phá vỡ hòa bình. Tôi cảm thấy rằng tác nhân phá vỡ hòa bình. lớn nhất ngày nay chính là nạn phá thai, vì đấy là một cuộc chiến trực tiếp, một sự giết chóc trực tiếp, một sự ám sát trực tiếp do chính người mẹ gây ra.
Ta đọc được trong Kinh Thánh, vì Chúa đã nói rõ ràng: ‘ Giả như người mẹ quên con mình, thì Ta cũng không hề quên ngươi. Ta đã ấp ủ ngươi trong lòng bàn tay Ta”. Chúng ta được ấp ủ trong lòng bàn tay Chúa; thai nhi đã được ấp ủ trong lòng bàn tay Người, gần sát với Người. Điều đánh động tôi nhất, ấy là phần đầu của câu này: Giả như người mẹ quên, nghĩa là một điều không thể nào xảy ra, nhưng dẫu bà có thể quên đi, thì Ta cũng sẽ chẳng bao giờ quên ngươi.
Ngày nay, phương tiện to lớn nhất, tác nhân phá hoại hòa bình mạnh mẽ nhất, ấy là nạn phá thai. Đối với chúng ta là những người đang có mặt nơi đây, thì cha mẹ chúng ta từng muốn có chúng ta. Hẳn là chúng ta sẽ không có ở đây nếu cha mẹ chúng ta đã xử sự như thế đối với chúng ta. Con cái chúng ta, chúng ta muốn có chúng, chúng ta yêu thương chúng. Nhưng đối với hằng triệu cháu bé khác thì sao? Nhiều người rất quan tâm, hết lòng quan tâm đến trẻ em Ấn Độ, trẻ em Phi Châu, ở đấy đông đảo các em chết, có thể là do suy dinh dưỡng, do đói ăn, vân vân, nhưng hàng triệu trẻ em đang chết do người mẹ chủ ý muốn như thế. Và đấy là tác nhân phá hoại hòa bình lớn nhất ngày nay. Vì nếu một bà mẹ có thể giết con ruột của mình, thì sá gì khi tôi giết anh chị em và anh chị em giết tôi? Giữa chúng ta có mối liên hệ gì đâu.
Điều tôi từng kêu gọi ở Ấn Độ thì tôi cũng kêu gọi ở mọi nơi: “Chúng ta hãy đem trẻ em về”; năm nay là năm của trẻ em: Chúng ta đã làm gì cho trẻ em? Đầu năm nay tôi nói chuyện khắp nơi và tôi bảo: năm nay chúng ta hãy quyết tâm để làm sao cho mỗi trẻ em đã ra đời, và chưa ra đời, được người ta muốn có chúng. Và hôm nay là cuối năm rồi. Chúng ta có thực sự làm được cho người ta muốn có trẻ em không?
Tôi nói cho anh chị em nghe một điều dễ sợ. Chúng tôi đã chống lại nạn phá thai bằng việc nhận con nuôi. Chúng tôi đã cứu hằng ngàn mạng sống. Chúng tôi đã gửi thư đến mọi dưỡng đường, bệnh viện, bót cảnh sát: “Xin đừng hủy hoại hài nhi, chúng tôi sẽ nhận cháu”. Vì thế bất cứ vào giờ phút nào ngày cũng như đêm cũng có một ai đó - chúng tôi có rất đông những người mẹ không lập gia đình - để nói rằng: “Đến đây, chúng tôi sẽ lo cho chị, chúng tôi sẽ chăm sóc em bé chị sinh ra, và sẽ tạo một mái ấm cho em”. Và chúng tôi nhận được vô số lời yêu cầu của những gia đình không con, đấy là một phúc lành mà Thiên Chúa ban cho chúng tôi.
Chúng tôi còn đang làm một điều tuyệt vời khác. Chúng tôi đang dạy cho những người ăn xin, những người phung hủi, những người cư ngụ trong khu ổ chuột, những người sống ngoài đường, cách kế hoạch hóa gia đình theo phương pháp tự nhiên. Chỉ tại Calcutta thôi, trong vòng sáu năm - và đều ở tại Calcutta - chúng tôi bớt được 61273 em bé cho các gia đình lý ra đã sinh con, nhờ thực hiện phương pháp kiêng cử này, nhờ tự kềm chế, dựa vào tình yêu thương nhau. Chúng tôi dạy họ phương pháp đo nhiệt độ, một phương pháp rất hay và rất đơn giản. Và dân chúng tôi hiểu ra. Anh chị em có biết họ nói gì với tôi không? “Gia đình chúng con giờ đây đã khỏe mạnh, hòa thuận, và chúng con có thể có con khi nào mình muốn”. Như vậy là rõ rồi. Những người ấy là những kẻ sống lang thang ngoài đường, là những kẻ ăn xin.
Tôi nghĩ rằng nếu dân chúng tôi có thể làm như vậy thì anh chị em và những người khác lại càng phải biết cách thức và những phương tiện để khỏi phải hủy hoại mạng sống mà Thiên Chúa tạo dựng trong lòng chúng ta. Những người nghèo là những người rất vĩ đại. Họ có thể dạy chúng ta rất nhiều điều tốt đẹp. Một hôm có người đến cám ơn chúng tôi và bảo: “Các dì chọn lối sống khiết tịnh, các dì là những người giỏi nhất để dạy chúng tôi về kế hoạch hóa gia đình vì việc đó không gì khác hơn là tự kềm chế dựa trên tình yêu thương nhau.” Tôi nghĩ rằng đấy là một câu nói thật hay. Những người ấy có thể không có gì để ăn, có thể họ không có một mái nhà để ở, nhưng họ là những con người cao cả. Người nghèo là những con người tuyệt diệu.
Một đêm kia chúng tôi ra ngoài đường đưa bốn người về. Một người trong số đó ở trong tình trạng rất tồi tệ. Tôi bảo các nữ tu: “Các con chăm sóc ba người kia, mẹ sẽ lo cho bà có vẻ nặng nhất này.” Tôi đã chăm sóc bà với trọn vẹn yêu thương. Tôi đặt bà lên giường, và gương mặt bà nở một nụ cười thật đẹp. Bà nắm lấy tay tôi mà nói một tiếng duy nhất: “Cám ơn”, rồi bà chết.
Tôi không thể nào không xét lại lòng mình. Tôi tự hỏi: “Tôi sẽ làm gì nếu ở vào vị thế của bà ấy?” Câu trả lời của tôi thật đơn giản. Hẳn tôi sẽ cố gắng lôi kéo sự chú ý về bản thân mình. Hẳn là tôi sẽ nói: “Tôi đói quá, tôi đang chết, tôi lạnh, tôi đau”, hay một điều gì tương tự như thế. Nhưng bà thì cho tôi rất nhiều hơn: bà cho tôi tình yêu đầy lòng biết ơn của bà. Và bà chết với nụ cười trên môi.
Cũng giống như một ông kia mà chúng tôi đón về từ cống rãnh, ông bị giòi ăn hết nửa người, chúng tôi đưa ông về nhà mình. Ông nói: “Tôi đã sống như một con thú ngoài đường, nhưng tôi sắp chết như một thiên thần, vì đã được yêu thương và được quan tâm”. Thật là kỳ diệu khi nhìn thấy sự cao cả của ông này, một người có thể nói như thế, có thể chết như thế mà không than van, không nguyền rủa bất cứ một ai, mà cũng chẳng so sánh bất cứ điều gì. Như một thiên thần. Đấy là điều cao cả nơi người dân của chúng tôi. Và đó là lý do mà chúng tôi tin điều Chúa Giêsu đã nói: “Thầy đói, Thầy mình trần, Thầy không nhà, Thầy bị hất hủi, chê ghét, bỏ mặc; và các con đã làm điều ấy cho Thầy”
Tôi tin rằng chúng tôi không phải là những người hoạt động xã hội. Có thể chúng tôi đang làm việc xã hội dưới mắt người ta. Nhưng chúng tôi thực sự là những người chiêm niệm trong lòng thế giới. Vì chúng tôi chạm được hình hài của Chúa Kitô 24 giờ một ngày. Chúng tôi sống dưới sự hiện diện của Ngài 24 giờ; mà anh chị em và tôi cũng đều như vậy cả.
Anh chị em phải cố gắng đem sự hiện diện ấy đến gia đình mình, vì gia đình nào cùng cầu nguyện với nhau thì cùng bền vững bên nhau. Tôi nghĩ rằng trong gia đình mình, chúng ta không cần bom đạn súng ống, để hủy hoại hay để đem lại hòa bình: chỉ cần ở bên nhau, yêu thương nhau, đem an bình, niềm vui, sức mạnh của sự hiện diện với nhau trong gia đình. Và chúng ta sẽ có khả năng vượt qua mọi sự dữ đang hoành hành trên thế giới này. Có quá nhiều đau khổ, hận thù, khốn cùng, và chúng ta bắt đầu tại gia đình mình với kinh nguyện, với hy sinh của mình.
Tình yêu khởi sự từ gia đình. Vấn đề không phải là chúng ta làm được bao nhiêu việc, mà là chúng ta đặt bao nhiêu tình yêu vào việc mình làm. Chúng ta làm cho chính Thiên Chúa Tối Cao. Ta làm được bao nhiêu thì không quan trọng, bởi vì Người là vô cùng, nhưng quan trọng là ta đặt bao nhiêu tình yêu vào việc mình làm. Chúng ta làm cho Người được bao nhiêu trong những người mà ta đang phục vụ.
Cách đây một thời gian, tại Calcutta, chúng tôi gặp khó khăn để có đường ăn. Tôi không biết làm sao mà tin này lại lọt vào tai các trẻ em, để rồi một em bé 4 tuổi, thuộc gia đình Ấn Giáo, về nhà nói với cha mẹ em: “Con sẽ không ăn đường trong 3 ngày. Con sẽ tặng Mẹ Têrêxa để cho các con của Mẹ”. Ba ngày sau, cha mẹ em đưa em đến nhà chúng tôi. Tôi chưa từng gặp họ trước kia, và em bé này khó khăn lắm mới nói được tên tôi. Nhưng em biết chính xác điều mà em đến để làm. Em biết mình phải làm gì để chia sẻ tình yêu. Và đấy là lý do vì sao tôi đã nhận được rất nhiều tình yêu của mọi người.
Từ lúc tôi đặt chân tới đây, tôi được vây quanh với toàn là tình yêu, một tình yêu đích thực, đích thực và thông cảm. Tôi có thể cảm nhận rằng mỗi người ở Ấn Độ, mỗi người ở Phi Châu là một con người đặc biệt đối với anh chị em.
Hôm nay tôi có nói với một nữ tu: Tôi cảm thấy sống với các chị em trong tu viện này như thể là tôi đang ở Calcutta với chị em của mình. Thoải mái như trong nhà mình, ngay tại đây. Vì thế tôi đứng đây để nói với anh chị em: tôi mong rằng anh chị em bắt gặp những người nghèo ở đây, trước tiên là ngay tại gia đình mình. Và bắt đầu yêu thương từ nơi ấy. Hãy trở nên tin mừng cho người nhà của mình. Rồi đến gặp gỡ những người láng giềng ở sát vách. Anh chị em có biết họ là ai không? Tôi đã có một kinh nghiệm lạ lùng với một gia đình theo Ấn Giáo có 8 con.
Một ông nọ đến nhà chúng tôi và bảo: “Mẹ Têrêxa à, có một gia đình 8 con; họ không có gì ăn lâu rồi; Mẹ làm điều gì đi!” Thế là tôi lấy một ít gạo rồi lập tức đi đến đấy. Tôi thấy mấy em bé với cặp mắt ánh lên vì đói. Tôi không biết anh chị em có bao giờ thấy ai đói chưa. Tôi thì thấy nhiều lắm ở Ấn Độ. Bà cầm lấy gạo, chia ra hai phần, rồi đi ra ngoài. Khi bà trở về, tôi hỏi bà: “Bà đi đâu vậy? Làm gì vậy?” Bà đơn sơ trả lời: “Họ cũng đói”. Điều làm tôi choáng váng nhất là bà ấy biết họ là ai -là một gia đình Hồi Giáo - bà ấy biết rõ. Tôi không đem thêm gạo tối hôm ấy vì tôi muốn để cho họ hưởng trọn niềm vui chia sẻ.
Và còn những đứa con rạng ngời niềm vui, chúng chia sẻ niềm vui với mẹ mình vì bà có tình yêu thương để trao tặng. Anh chị em đã thấy đấy: nơi mà tình yêu khởi đầu chính là gia đình mình. Tôi muốn có được anh chị em. Tôi rất biết ơn về những gì tôi đã nhận. Đây là một kinh nghiệm lớn lao và khi tôi về lại Ấn Độ - tôi sẽ về đấy vào tuần sau, có lẽ là ngày 15 - và tôi có thể mang về tình yêu của anh chị em. Tôi biết rõ ràng là anh chị em không trao tặng cái dư thừa, nhưng anh chị em trao tặng đến nhói đau.
Hôm nay, các em bé cũng trao tặng - tôi rất là ngạc nhiên - và thế là có rất nhiều niềm vui dành cho những em bé đang đói. Những trẻ em như các em sẽ cần tình yêu và sẽ nhận được thật nhiều từ cha mẹ mình. Vì thế, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì chúng ta đã có cơ hội này để quen biết nhau, và sự hiểu biết nhau đã đem chúng ta đến thật gần nhau.
Chúng ta sẽ có thể giúp đỡ trẻ em trên toàn thế giới, vì như anh chị em biết, các nữ tu chúng tôi có mặt khắp nơi trên thế giới. Với giải thưởng mà tôi nhận như là giải hòa bình, tôi sẽ cố gắng tạo một tổ ấm gia đình cho nhiều người vô gia cư (2). Bởi vì tôi tin rằng tình yêu khởi sự từ gia đình, và nếu chúng ta có thể tạo một mái ấm cho người nghèo, tôi nghĩ rằng tình yêu càng ngày sẽ càng lan rộng. Và qua tình yêu thông cảm này, chúng ta có thể đem lại hòa bình, trở nên tin mừng cho người nghèo. Trước tiên người nghèo trong gia đình mình, rồi trên đất nước mình và trên thế giới. Muốn làm được như thế, chị em nữ tu chúng tôi, cuộc sống của chúng tôi phải được đan dệt bằng cầu nguyện. Phải được đan dệt bằng Chúa Kitô mới có khả năng thông cảm, có khả năng chia sẻ.
Hiện nay, có quá nhiều đau khổ và tôi cảm thấy rằng cuộc thương khó của Chúa Kitô đang được sống lại hằng ngày. Chúng ta có mặt ở đấy để chia sẻ cuộc thương khó của Ngài không? Chia sẻ nỗi thống khổ của con người; trên toàn thế giới, chứ không chỉ tại các nước nghèo mà thôi.
Thế nhưng tôi nhận ra rằng cái nghèo của Phương Tây còn khó xóa bỏ hơn nhiều. Khi tôi đưa về một người từ ngoài đường, đói lả, tôi trao tặng một đĩa cơm, một mẩu bánh, và tôi mãn nguyện. Tôi đã xóa được cái đói ấy.
Nhưng đối với một người bị đóng cửa, một người cảm thấy rằng không ai muốn có mình, không ai yêu thương mình, một người sợ hãi, một người bị vứt ra ngoài lề xã hội, thì cái nghèo của người ấy rất đau đớn và nặng nề, và tôi cảm thấy rất khó mà xóa sạch.
Chị em chúng tôi đang làm việc giữa những hạng người ấy ở Phương Tây. Vì thế anh chị em phải cầu nguyện cho chúng tôi, để chúng tôi có thể trở thành tin mừng ấy. Chúng tôi không thể làm được điều đó nếu không có anh chị em. Anh chị em phải làm như thế tại đây, trên đất nước của mình. Anh chị em phải biết đến người nghèo.
Có lẽ người dân của chúng ta tại đây có đầy đủ vật chất, đủ mọi sự, nhưng tôi nghĩ rằng nếu chúng ta nhìn lại gia đình mình, chúng ta nhận ra rằng đôi khi khó lòng mà mỉm cười với nhau, mà nụ cười là bước đầu của tình yêu.
Do đó, chúng ta hãy gặp gỡ nhau với nụ cười, vì nụ cười là bước đầu của yêu thương, và một khi chúng ta bắt đầu yêu thương ai, thì tự nhiên chúng ta muốn làm một điều gì đó.
Anh chị em hãy cầu nguyện cho các nữ tu chúng tôi, cho các nam tu sĩ của chúng tôi, cho những Cộng Tác viên của chúng tôi trên khắp cùng thế giới. Hãy cầu nguyện cho chúng tôi luôn trung thành với ơn của Thiên Chúa, để cùng với anh chị em mà yêu mến và phục vụ Ngài trong người nghèo.
Những điều chúng tôi đã làm thì hẳn là không thể nào làm được nếu anh chị em không chia sẻ bằng lời cầu nguyện, nghĩa là bằng một sự trao ban trường kỳ. Nhưng tôi không muốn anh chị em cho tôi cái dư thừa. Tôi mong anh chị em cho tôi đến độ nhói đau.
Một hôm tôi nhận được 15 USD từ một người từng nằm liệt giường hai mươi năm và phần thân thể duy nhất ông có thể cử động được là bàn tay phải của mình. Người bạn duy nhất của ông là điếu thuốc lá. Ông nói với tôi: “Tôi không hút thuốc trong một tuần, để gởi đến Mẹ số tiền này”. Hẳn là một sự hy sinh kinh khủng đối với ông, nhưng hãy xem cách ông chia sẻ mới đẹp làm sao! Với số tiền ấy tôi đem bánh mì đến tặng những người đói với niềm vui cho cả hai bên. Ông đã trao tặng và người nghèo đón nhận.
Đấy là điều mà anh chị em và tôi có thể làm. Quả là một ân huệ Chúa ban cho chúng ta ấy là chúng ta có khả năng chia sẻ tình yêu mình cho tha nhân. Hãy giữ khả năng chia sẻ tình yêu chúng ta cho người khác. Hãy làm như thể là ta làm cho Chúa Giêsu. Ta hãy yêu thương nhau như Ngài yêu thương chúng ta. Ta hãy yêu mến Ngài bằng một tình yêu trọn vẹn. Và niềm vui xuất phát từ việc yêu thương Ngài và yêu thương nhau, thì chúng ta hãy tặng nhau ngay bây giờ, khi mà lễ Giáng Sinh đã gần kề. Ta hãy giữ niềm vui của Chúa Giêsu từ ái trong tâm hồn chúng ta, và chia sẻ niềm vui ấy với mọi người ta gặp gỡ.
Chia sẻ niềm vui rạng rỡ ấy với mọi người ta gặp gỡ. Niềm vui rạng rỡ ấy thì có thật, vì chúng ta không lý gì mà không vui sướng khi chúng ta có Chúa Kitô ở với mình.
Chúa Kitô ở trong lòng mình, Chúa Kitô ở trong người nghèo mà ta gặp, Chúa Kitô ở trong nụ cười mà ta trao và trong nụ cười mà ta nhận.
Chúng ta hãy quyết tâm một điều, đó là làm sao để không còn một trẻ thơ nào bị loại bỏ, đồng thời chúng ta lúc nào cũng hãy gặp nhau với nụ cười, đặc biệt là khi khó mà mỉm cười được.
Tôi không bao giờ quên, cách đây một thời gian, độ 15 giáo sư đến từ nhiều đại học Hoa Kỳ. Họ đến nhà chúng tôi tại Calcutta. Chúng tôi nói chuyện về cuộc viếng thăm của họ tại nhà dành cho người hấp hối (Chúng tôi có một nhà dành cho người hấp hối ở Calcutta, ở đấy chúng tôi đón hơn 36000 người từ đường phố, và trong số đông đảo đó có hơn 18000 người đã chết lành. Họ đi về nhà Chúa mà thôi).
Các giáo sư đến nhà chúng tôi và chúng tôi nói về tình yêu, về lòng thương cảm. Một người trong họ hỏi tôi: “Thưa Mẹ, xin nói cho chúng con một điều để ghi nhớ”. Tôi mới bảo họ: “Hãy mỉm cười với nhau, hãy dành thì giờ cho nhau trong gia đình. Hãy mỉm cười với nhau.” Rồi một người khác hỏi tôi: “Mẹ có chồng không?”, tôi đáp: “Có chứ, và đôi khi tôi cảm thấy rất khó mà mỉm cười với Chúa Giêsu vì thỉnh thoảng Ngài có thể đòi hỏi rất cao”. Điều này đôi khi lại đúng như vậy. Khi tình yêu xuất hiện, thì nó đòi hỏi, và chúng ta vẫn có thể trao tặng với niềm vui.
Điều tôi vừa nói hôm nay, thì tôi cũng từng nói rồi, ấy là nếu tôi không lên thiên đàng vì một điều gì khác thì tôi vẫn lên thiên đàng vì mọi lời quảng cáo, bởi lẻ những quảng cáo ấy đã thanh luyện tôi, biến tôi thành lễ vật hy sinh, và chuẩn bị cho tôi sẵn sàng mà lên thiên đàng.
Tôi nghĩ rằng có một điều khiến ta phải sống một cuộc sống đẹp, ấy là chúng ta có Chúa Giêsu ở với mình và yêu thương mình. Giả như chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa yêu thương mình, và chúng ta có cơ hội yêu thương nhau như Người yêu thương chúng ta, không phải trong việc lớn, nhưng trong việc nhỏ với một tình yêu lớn, thì Na Uy hẳn đã trở nên tổ ầm cho tình yêu. Và đẹp làm sao nếu từ nơi đây ta trao tặng cho thế giới một trung tâm hoà bình. Từ nơi đây, niềm vui cho mạng sống các thai nhi được nảy sinh. Nếu anh chị em trở nên một ánh sáng hòa bình cháy lên trong lòng thế giới, thì Giải Nobel Hòa Bình đích thực là một quà tặng của người dân Na Uy.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em!
Mother Têrêsa.
Trần duy Nhiên (dịch)
(1)
Chắc hẳn Mẹ Têrêxa có dự định bắt đầu diễn văn nhận giải Nobel ngày hôm sau bằng lời cầu nguyện sau đây, như được nêu trong văn bản chuẩn bị mà Mẹ đã gởi đến để cho in vào tập Les Prix Nobel và được in lại ở đây.
Tuy nhiên, trong các tường thuật của báo chí về buổi lễ, rõ ràng là Mẹ đã đọc kinh ấy trong diễn văn nhận giải ngày 10 tháng 12 và không đọc kinh ấy trong bài diễn văn ngày hôm sau. Lời kinh mà Mẹ Têrêxa đọc là một kinh được gán cho thánh Phanxicô Assisi mà Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái ở Calcutta đã vui lòng cung cấp cho chúng tôi. Lời ấy như sau:
Lạy Chúa,
xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa,
Để con đem yêu thương vào nơi oán thù,
Đem thứ tha vào nơi lăng nhục,
Đem an hoà vào nơi tranh chấp,
Đem chân lý vào chốn lỗi lầm.
Để con đem tin kính vào nơi
nghi nan,
Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng,
Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm
Đem ủi an (nìềm vui) đến chốn u sầu.
Lạy Chúa xin hãy dạy con,
Tìm an ủi người, hơn được người ủi an,
Tìm hiểu biết người, hơn được người hiểu biết,
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu,
Vì chính khi thứ tha là khi được
tha thứ,
Chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời. (3)
(3) Ghi chú: Lời Việt này lấy
lại bản dịch chính thức của Kinh Hòa Bình (được xem là) của thánh
Phanxicô Assisi, mà mọi cộng đoàn Công Giáo tại Việt Nam đều thuộc. Toàn
bộ kinh ấy như sau: (Phần chữ xanh không có trong lời kinh của Mẹ
Têrêxa, dịch giả Việt Nam đã thêm vào câu đầu và câu cuối, Mẹ
Têrêxa bỏ câu này:
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,
và dịch giả Việt Nam thêm
câu này:
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân (có
lẽ để cho đủ câu hát - Vì Kinh hòa bình bằng tiếng Việt là bài
hát chứ không phải kinh đọc)
(2)
Knam đã ở Anh lúc đó ('79) có nghe giải thưởng hiện kim gần 180 ngàn US đô, nếu đem về nhà Mẹ Têrêsa ở Calcutta phải đóng thuế hơn 75 %, nên Mẹ đã trù liệu nhận xây một căn nhà đúng với số tiền đó thay vì nhận hiện kim.
"Với giải thưởng mà tôi nhận như là giải hòa bình, tôi sẽ cố gắng tạo một tổ ấm gia đình cho nhiều người vô gia cư."
Knam chân thành cám ơn thầy Trần Duy Nhiên (c) đã cho phép
đăng trong trang mạng này. Qúi vị muốn trích đăng, hoặc in thành sách xin
vui lòng liên lạc trước cám ơn. ![]()
Nghe nhạc Kinh Hòa Bình (nhạc Midi)