| Mẹ Têrêsa, vị tông đồ hoan lạc |
VietCatholic News (16/10/2003 )
Ngay lúc sinh thời, Mẹ Têrêsa
đã được nhiều người coi như một vị thánh sống vì đã tận tuỵ hiến
dâng cuộc đời cho những kẻ bần cùng và những người bị bỏ rơi trên
khắp thế giới. Nhưng hôm 19 tháng 10 này, ngày Khánh nhật Truyền giáo,
khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong chân phước cho Mẹ thì thực thụ
Mẹ đã một bước gần hơn tiến tới bậc hiển thánh.
Theo linh mục Brian Kolodiejchuk, là cáo thỉnh viên vụ tuyên thánh, Mẹ
Têrêsa không chỉ là biểu tượng của một tấm lòng từ bi nhân hậu và
một vị nữ tu hoạt động xã hội, mà còn hơn thế nữa. Sau đây là
trình thuật của cha Brian - các nữ tu dòng Thừa sai Bác Aí thường gọi tên
cha vắn tắt như thế - ngài sinh tại Winnipeg (tỉnh bang Manitoba, Canada) năm
1956 và gặp Mẹ Têrêsa năm 1977.
Chiều sâu của lòng phục vụ đầy yêu thương của Mẹ đã được khám
phá trong suốt tiến trình tuyên thánh khởi đầu từ năm 1999, chỉ hai năm
sau ngày Mẹ qua đời ở tuổi 87. Suốt cuộc đời, Mẹ Têrêsa đã rất
kín đáo không đề cập tới những tranh đấu nội tâm cũng như nhiệt tâm
thúc đẩy thành lập Tu hội Thừa Sai Bác Ái.
Trưởng thành về nhân đức
Cha Brian nói: Trong lúc điều tra về cuộc đời Mẹ Têrêsa tôi đã khám
phá ra ngay lúc còn là nữ tu dòng Loreto dạy học tại Calcutta Mẹ đã trưỡng
thành trong cuộc sống tâm linh. Năm 1948, lúc 40 tuổi Mẹ rời bỏ dòng tu
Loreto sau khi tu tập đã 20 năm trời và cho rằng lúc ra đi Mẹ thấy khó khăn
còn hơn cả lúc rời gia đình nữa. Ngay từ năm 1942 Mẹ Têrêsa đã long trọng
nhưng âm thầm khấn hứa là sẽ không từ chối Chúa bất cứ điều gì.
Đó là một bước quan trọng trong sự phát triển đời sống đạo đức.
Coi mình như là người hiền thê của Chúa Giêsu, Mẹ Têrêsa đã “bừng
cháy một niềm yêu mến Người như chưa từng yêu Người như thế”, Mẹ
đã thuật lại câu đó. Và Mẹ muốn “làm điều gì thật tốt đẹp cho
Chúa”.
Khoảng năm 1946-1947 Mẹ Têrêsa đã đạt tới giai đoạn quan trọng trong tiến
trình tăng tiến về nhân đức. Mẹ đã có những đàm thoại nội tâm với
Chúa Giêsu và Chúa đã yêu cầu Mẹ thiết lập một nhóm người mới để
phục vụ những người bần cùng nhất, theo lời Mẹ, là “để thỏa mãn
lòng Chúa khát khao tình yêu và các linh hồn”.
Mặc dầu Mẹ cảm thấy không xứng đáng với trách nhiệm lập tu hội, Mẹ
nghe tiếng Chúa thách thức: “Con sợ là con sẽ mất ơn gọi, sẽ trở thành
người thế tục, sẽ bị đòi hỏi phải kiên trì nhẫn nại. Này con, ơn
gọi của con là yêu mến, là chịu khổ đau và cứu rỗi các linh hồn, và
theo đường bước đó con sẽ thỏa mãn nỗi khát khao của trái tim Cha đối
với con“. Đã nhiều lần Mẹ nghe Chúa Giêsu hỏi Mẹ có từ chối lời
Người yêu cầu không. Và Mẹ đã không từ chối Người.
Gương mẫu cuộc sống thánh thiện
Bằng một tấm lòng nao nức, Mẹ bắt đầu công tác mới phục vụ những
kẻ cùng khổ nhất ở Ấn độ. Mẹ tìm thấy tấm gương khuôn mẫu nơi chị
Frances Xivier Cabrini (1850-1917) một nữ tu người Ý đã phục vụ tại Mỹ.
Mẹ Têrêsa viết: “Tôi đọc sách thuật về cuộc đời của thánh
Cabrini, thấy rằng người đã phục vụ hết mình cho người Mỹ vì người
đã hoà mình làm một người Mỹ như họ. Tại sao tôi lại không làm được
ở Ấn Độ như thánh nhân đã làm ở Mỹ?”
Giai đoạn cuối cùng trong sự tăng tiến về nhân đức của Mẹ đã tới
khi Mẹ bắt tay vào công tác mới. Mẹ khổ sở vì điều Mẹ gọi là “Bóng
tối”: Mẹ mong mỏi được Chúa, nhưng cảm thấy hụt mất Người.
Mẹ thú nhận: “Tôi càng mong mỏi Chúa tôi càng cảm thấy Người ít cần
tôi”. Nhưng Mẹ vẫn kiên trì trong lời đã khấn hứa với Người và
trung thành với kỷ luật tự đặt ra cho mình, chẳng hạn ngày nào cũng thức
dậy vào 4g40 sáng để có mặt đầu tiên tại nhà nguyện. “Bóng tối”
đã trở thành người bạn đồng hành với Mẹ. Mẹ hàng phục Chúa Giêsu
bằng một đức tin thuần khiết nhưng mù quáng, tự coi mình như “cây viết
chì trong tay Người”
Mẹ là chứng nhân mạnh mẽ cho điều mà nhiều người gọi là “đêm
đen bao phủ tâm hồn”. Mẹ đã có lần viết: “Tôi tự hỏi khi mà trong
nội tâm tôi chẳng có gì hết thì Chúa lấy gì mà nhận đây?” Trong một
bức thư viết cho Tổng Giám mục Calcutta là Ferdinand Perier, Mẹ viết: “Linh
hồn con có thật nhiều mâu thuẫn: con mong muốn Chúa thật sâu xa đến nỗi
đau khổ triền miên, nhưng lại thấy Chúa chẳng muốn gì con, thấy bị ruồng
bỏ, trống vắng, không niềm tin, không tình yêu, không nhiệt tình. Các
linh hồn không còn là điều làm con hấp dẫn. Thiên đường không còn ý
nghĩa, con chỉ thấy như là một nơi trống vắng. Vậy mà con lại bị
hành hạ vì lòng mong muốn yêu mến Chúa. Xin cầu nguyện để con vẫn mỉm
cười với Người bất chấp những chuyện đó.”
Mẹ coi điều khổ sở nhất là nỗi khổ của những người không được
yêu mến, không được chăm sóc, không được ai cần, những người nghèo
nàn tâm linh mà chính Mẹ đã trải qua trong mối liên lạc với Chúa Giêsu.
Rạng rỡ niềm vui
Mẹ đã dự phần vào cuộc khổ nạn của Chúa, vào cảm giác bị bỏ rơi
nơi vườn Cây dầu và trên thập giá. Chính sự chia sẻ khổ đau đó với
Chúa đã kéo người ta đến với Mẹ. Và nỗi khổ đau tiếp tục theo Mẹ
đến cuối cuộc đời.
Tuy nhiên thay vì bám chặt lấy nỗi cô đơn của mình, Mẹ đã trở thành
vị tông đồ của niềm vui. Bất chấp nỗi đau khổ của chính mình, Mẹ
đã lúc nào cũng làm rạng rỡ niềm vui cho những người chung quanh, đó
là minh chứng hùng hồn đức tin sâu xa của Mẹ.
Cha Brian đã thấy có mối liên hệ giữa sự tăng tiến nhân đức của Mẹ
với công việc xã hội và cách thức Mẹ thực hiện: Nhiều người đã hỏi
tại sao Mẹ không lập một nhà thương to lớn và tân tiến tại Calcutta
mà lại làm Nhà Cho Người Hấp Hối. Nhưng Mẹ đã muốn mọi công tác phải
đuợc thực hiện trên căn bản cá nhân, cho từng người, để thể hiện
tình Chúa yêu thương, từ bi và hiện diện, như lời chứng của một bệnh
nhân: “Tôi đã sống như một con vật nhưng với Mẹ Têrêsa tôi đang chết
như một thiên thần.”
Cần phải có một phép lạ trước mới được tuyên thánh. Mẹ Têrêsa đã
làm đuợc phép lạ nào?
Đó là vụ chữa lành năm 1998 cho một phụ nữ Ấn tên Monika Besra, bị sưng
một bướu lớn nơi bụng. Sự chữa lành mau chóng đã hội đủ các điều
kiện đòi hỏi của một phép lạ là phải tức thời, hoàn toàn, vĩnh viễn
và không giải thích được bằng khoa học. Monika khoảng chừng hơn 30 tuổi
và có 5 đứa con. Bà sẽ tham dự lễ phong chân phước Mẹ Têrêsa.
Christopher Hitchins đã viết một cuốn sách chỉ trích Mẹ Têrêsa vì đã
liên lạc với các nhà lãnh đạo thối nát như Fidel Castro và Ferdinand
Marcos vị tổng thống Phi luật tân đã bị dân chúng bắt lưu vong, và vì
Mẹ được chữa trị bằng các phương tiện tốn kém mà những người Mẹ
phục vụ không được hưởng. Cha Brian trả lời rằng: Mẹ đã phải vâng
lời các giám mục vì các ngài yêu cầu cho Mẹ được chữa trị tại các
nhà thương tốt như ở Tijuana. Phải nhiều cố gắng cam go mới giữ được
Mẹ ở trên giường bệnh viện vì Mẹ vẫn mong muốn đuợc chết trên
chính chiếc giường của mình chung quanh là các chị em của tu hội. Và Mẹ
đã qua đời như vậy.
Vâng phục ý Chúa
Giáo Hội Chúa sẽ phong phú hơn khi Mẹ Têrêsa đuợc tôn phong hiển thánh.
Cha Brian cho biết làm nhiệm vụ cáo thỉnh viên là một kinh nghiệm tốt đẹp
cho ngài.
“Ngoài việc khám phá ra khía cạnh huyền nhiệm nơi Mẹ Têrêsa, tôi còn
cảm nhận sâu xa đuợc sự kiện “các thánh cùng thông công” nữa. Lúc
này tôi cám ơn nhiều hơn tình thương đích thực và sâu xa của các vị
thánh trên thiên đường đối với chúng ta và thấy các ngài có thể trở
thành bạn đồng hành và bằng hữu của chúng ta. Mẹ Têrêsa chẳng hạn,
khi còn sống ta khó mà tiếp xúc được với người bằng điện thoại, và
ngay cả khi được người trả lời thì câu chuyện cũng vắn tắt lắm vì
người không ưa nói chuyện lâu bằng điện thoại. Thế nhưng bây giờ
thì tôi có cảm giác rằng người sẵn sàng ở đó 24 giờ một ngày và 7
ngày một tuần.
Và mặc dầu Mẹ Têrêsa đang trên đường tiến trình trở thành một vị
thánh, cha Brian nói Mẹ cũng đã có những yếu đuối của con người. Mẹ
cũng đã có lúc tức bực, chẳng hạn khi có lầm lẫn trong việc sắp xếp
buổi nói chuyện của Mẹ tại một giáo xứ ở Roma khiến giáo dân phải
chờ đợi, Mẹ đã rầy la chị nữ tu có trách nhiệm nhưng sau đó, theo
thói quen của Mẹ, Mẹ đã xin lỗi bằng một cử chỉ thân thiện.
Một chuyện nữa là Mẹ rất thích carem. Tại nhà dòng chính ở Calcutta,
vì có đông các nữ tu nên theo lệ là mỗi năm chỉ có carem hai hoặc ba lần.
Nhưng nếu có ai đưa carem cho Mẹ thì Mẹ nhận liền. Cha Brian nói khi song
thân cha tới thăm Mẹ thường có đem theo một số bánh ngọt. Mẹ Têrêsa
tiếp nhận bánh ngọt đó với tâm tình cũng như khi nhận một món ăn cháy
khét, như cả hai đều do Chúa ban. Đó là cách thức Mẹ vâng theo ý Chúa.
(viết thaeo Desmond O’Grady)
Phạm Hoàng Nghị