| Têrêsa - đôi mắt của trái tim |
VietCatholic News (Chúa Nhật 19/10/2003)
Người ta bảo tiếng sét ái
tình là định mệnh hai chiều gặp gỡ giữa ấn tượng của mắt nhìn và
rung động của trái tim. Chẳng biết có đúng không? Chỉ hiểu đơn giản
rằng nếu đôi mắt thể hiện tốt chức năng tiếp nhận ấn tượng thì
trái tim sẽ vận dụng hết khả năng rung động để cảm nhận, từ đó
mà phản ứng bộc phát; “ngày đầu đến tìm nhau tim trao vào ánh mắt, mắt
chìm vào yêu đương” (Nửa đời yêu em, Lam Phương). Với đôi bạn
tình, lắm lúc phải nhắm mắt lại để cơ quan tiếp nhận ngơi nghỉ cho
bộ máy rung cảm hoạt động tích cực hơn; khi bộ máy rung cảm hoạt động
tối đa thì hành động ắt sẽ phản ứng rất tức thời và quyết liệt.
Trong một số trường hợp, cả ba chức năng không hoạt động đồng bộ
nhưng luân phiên biến chuyển. Thế nhưng, có một con người mà cả mắt
nhìn, con tim, và hành động đồng loạt hoạt động hết công suất không
hề mỏi mệt. Đó là Mẹ Têrêsa Calcutta- đấng sáng lập dòng Thừa Sai
Bác Ái, người mà cả thế giới hôm nay ngắm nhìn Giáo hội Công giáo
tôn vinh.
Hôm nay, người ta nói về con người của Mẹ rất nhiều, các phương tiện
truyền thông kể về Mẹ cũng chẳng ít. Và có lẽ gần năm nghìn nữ tu
Thừa Sai Bác Ái cũng chưa từng bao giờ rộn ràng hoan hỉ như những ngày
này; ơn thánh của buổi lễ hôm nay tại Vatican được chung vui cách rất
đặc biệt bởi ba nghìn vé mời danh dự hàng đầu đã phát tặng không
cho những người vô gia cư. Niềm vui của bác ái, đúng là bác ái, mọi
lúc mọi nơi cho mọi người. Hiệp thông với niềm vui ấy để tri ân cuộc
đời của Mẹ, xin được gợi tả chân dung một Têrêsa như đôi
mắt của trái tim.
1. Từ ấn tượng của đôi mắt:
Têrêsa, nhà hoạt động toàn cầu ấy chẳng hề một lần xuất hiện như
vị nguyên thủ quốc gia với đoàn tùy tùng tiền hô hậu ủng bệ vệ oai
phong. Têrêsa, nữ đại- sứ- lưu- động ấy chưa một lần ngồi vào vòng
đàm phán thương lượng “tiền trao cháo múc” mưu lược toan tính.
Têrêsa ấy, con người của những kẻ bần cùng nghèo đói nhất xuất hiện
như làn gió mát mùa thu xoa dịu trận nắng gắt mùa hè đã qua và để lại
ấn tượng êm ái khó quên trước những cơn lạnh cắt da mùa đông sẽ đến.
Ai gặp Mẹ, dù một lần cũng bị cuốn hút. Ai nhìn Mẹ, dù xa xa thoáng
qua hay gần gũi cận kề cũng có một ấn tượng. Ấn tượng bị cuốn
hút bởi một đôi mắt rất ấn tượng.
Đôi mắt của Mẹ không quyến rũ các nhà làm phim Hollywood, cũng chẳng mơ
mộng gợi hứng cho các nhà họa sĩ tô vẽ. Đôi mắt của Mẹ tinh anh và
sắc bén để nhận biết giá trị và cảm nhận rủi ro từ những mảnh đời
bần cùng tận số. Những bước đường góc phố Mẹ đi qua, không một kẻ
cơ nhỡ nào bị bỏ sót. Đôi mắt ấy sáng ngời như đèn chiếu soi rọi
từng hang hẻm ngóc ngách để kiếm tìm những sinh linh thoi thóp như ngọn
đèn bão ngoi ngóp trong lốc xoáy cuộc đời.
Ngày xa xưa ấy người con gái Albani đã không đón nhận tín hiệu ngoại
lai để thu về rung cảm cho riêng mình một chút kỉ niệm thuở thanh xuân;
trái lại, trên chuyến tàu ngày 10 tháng 9 năm 1946 khởi hành từ Calcutta
đi Darjeeling, đôi mắt Têrêsa đã tiếp sóng một tín hiệu định mệnh
mới. Làn sóng phát đi vô tình từ những phận người lê lết lang bạt
trên hè phố như những tín hiệu kĩ thuật số digital đã được Têrêsa cảm
hóa trong suy tư. Ấn tượng trong đôi mắt hôm ấy đã không ngừng rung động
con tim của Têrêsa.
2. Đến rung cảm của trái tim:
Ai cũng biết, người nữ tu Thừa Sai Bác Ái không bao giờ được giữ một
đồng xu trong túi- chỉ một xu thôi cũng không. Đồng tiền vấy đục suy
tư, các chị quyết liệt giũ bỏ vướng bận ấy. Thế cũng còn chưa thấm,
mỗi một nữ tu chỉ giữ duy nhất hai bộ đồ để thay bận luân phiên.
Ngặt nghèo quá! Mẹ Têrêsa quan niệm chỉ khi nào túi rỗng tay không thì
tiếng nói của con tim mới nguyên thủy nguyên vẹn. Thế đó, trái với
quan niệm thị trường phổ thông dễ hiểu của đa phần, đường lối của
Mẹ Têrêsa là vậy. Mẹ không muốn con tim bị ảnh hưởng bởi bất cứ
động lực nguy cơ nào mà chỉ rung động thuần khiết bởi những giao cảm
thiện- mĩ. Mẹ vào đời với người bần cùng, hơi bị nghèo cũng còn là
chưa nghèo, đối tượng rung cảm của Mẹ là những người nghèo đói bần
cùng nhất trong số những người nghèo.
Trong phục vụ, Mẹ không theo đuổi văn hoá dịch vụ kiểu Mỹ- tới đầu
xới đầu thấy trước lấy trước, mà trái lại Mẹ đi tìm đi kiếm những
ai không còn một cơ hội sống- như- người- sống. Thê lương bi đát bệ
rạc bao nhiêu thì Mẹ rung cảm bấy nhiêu. Nghe kể lại những năm đầu thập
niên 50, khi thiếu nữ Têrêsa đơn độc hoạt động ngang dọc xông pha
trên mọi nẻo đường của Calcutta giữa đa phần tín hữu Hindu, với một
con tim rung cảm không ngại ngùng ngừng nghỉ, cuối cùng Mẹ đã thuyết
phục được chính quyền giao cho một ngôi đền cũ để khởi đầu một
ngôi nhà mới mang tên Nirmal Hriday- Pure Heart. Đó là ngôi nhà đầu tiên
dành cho những người vất vưởng hấp hối ngoài đường. Có người được
Mẹ đưa về đó rồi chết, có người chết lạnh trên đường trong vòng
tay sưởi ấm của Mẹ; một điểm chung là tất cả những người như thế
đã “được” chết sau những khoảnh khắc may mắn được đối xử như
người với trọn vẹn nhân ái.
Chẳng hiểu Mẹ được ban tặng một quả tim với cấu trúc tuần hoàn huyết
thống như thế nào, đặc biệt ra làm sao, vĩ đại đến dường nào. Chỉ
biết rằng nhờ Mẹ và các chị thừa sai của Mẹ mà vô số cuộc đời
buồn đã chết bằng nụ cười diễm phúc, nói cách nào đó thì những người
ấy đã tìm thấy thiên đường trước khi lìa dương thế. Những rung cảm
của trái tim mang tên Têrêsa ấy đã thao thức một tâm hồn ngập
tràn bác ái đến vô biên.
3. Để hiến thân không mỏi mệt.
Sau những năm tháng đằng đẵng bước đi không mỏi mệt Mẹ đã đột quị
(1985, Rome) ngay khi đang viếng thăm Đức Thánh Cha. Tiếp đến là lao phổi
(1991, Mexico) rồi sốt rét (1996); vẫn không ngừng những bước chân phục
vụ, cuối cùng quả tim vĩ đại đã bộc phát tái biến chứng. Quả tim bằng
máu thịt đã không dung chứa nổi sức lao động phi thường, lá phổi dung
dị trong dáng hình mong manh nhỏ bé bị bào mòn kiệt quệ bởi một đời
“tình cho không biếu không” mọi lúc mọi nơi cho mọi người và vì mỗi
người. Không chỉ riêng quả tim đó trao đi tặng phẩm yêu thương cho những
ai hấp hối lìa đời hay những kẻ tả tơi rơi rách, mà lá phổi ấy còn
mang đi những hơi thở đem lại niềm vui gọi mời biết bao tâm hồn đồng
thời quảng đại đồng hành. Không chỉ những màu áo sari nền trắng viền
xanh lúc ẩn lúc hiện xa gần ngang dọc khắp nơi, mà còn thấp thoáng những
tâm hồn thiện nguyện thiện chí ngày đêm cộng tác nối rộng vòng tay trải
dài sức sống từng mọi nẻo đường trên khắp thế giới cho công trình
sống đời thừa sai rao truyền bác ái. Têrêsa không chỉ là một
tình ca dâng hiến mà còn là khúc hát gọi mời mỗi người mọi nơi.
Vóc dáng gầy gòm bé nhỏ trong bộ sari nền trắng viền xanh bình thường
giản dị nhất của người bản xứ (Calcutta) làm sáng lên khuôn mặt già
nua nhăn nheo dãi dầm nắng bụi, vẻ bình an thanh thoát trên khuôn mặt không
hề mỏi mệt khiến nhiều người âu lo khi cúi xuống thấy đôi chân
khô cứng hơn đôi dép cũ từng trải bước tứ phương. Bộ đồ sari đó,
đôi dép mòn đó cùng với một cuộc đời mang tên Têrêsa đã ra vào tới
lui tất bật khắp chốn từ Giáo đô Vatican đến văn phòng Hội Đồng Bảo
An Liên Hiệp Quốc, rồi nào là dinh tổng thống, phủ thủ tướng, tư thất
hoàng gia, và còn nhiều nữa và nhiều nữa. Nhưng có lẽ cuộc đời của
Mẹ chỉ vui khi tất bật ở những khu ổ chuột ổ gà hôi tanh xác bọ
phân bò; nếu Mẹ có rảo bước, như đã từng bước đến những nơi sang
trọng lộng lẫy oai nghi thì cũng chỉ để lên tiếng cứu đời cho những
xác- người- sống vấy bẩn hôi tanh ấy thôi. Cả một đời lặn lội
như thế, từ sáng sớm đến đêm hôm trong mưa nặng lạnh gió lẫn khi nắng
đẹp sáng trời- cũng không hề mệt mỏi.
Ấn tượng trong đôi mắt nhìn có tên gọi Têrêsa, hôm nay, đang rung cảm
trái tim địa cầu. Thế đấy, một chân dung thừa sai đang đi vào lịch sử
đương đại cách huyền diệu biết bao. Têrêsa- đôi mắt đẹp của trái
tim bác ái.
Vũ, S.J.