|
|
|
In bài
| |
Xa xa lấp-ló tháp làng
Con tàu băng gío rộn-ràng lòng quê
Còn đâu những buổi đi về
Trên đường đất đỏ trăm bề mừng vui.
Vi-Sơn
(1954)
Đọc thơ gợi nhớ quê mình
Đất lành Tráng-Liệt, Cẩm-Bình, Hải Dương
Kẻ Sặt tiếng gọi thân thương
Rõ-ràng làng Sặt dân thương quen dùng
Quán Gỏi là chỗ xe ngưng
Hướng về Cầu-Sắt dưng-dưng lệ trào
Hai hàng phố đẹp làm-sao
Tiệm buôn sầm-uất nhôn-nhao tối ngày
Trường công, huyện phủ, bến bè
Ô-tô, xe ngựa, thuyền bè trên sông
Kia là khu chợ rất đông
Bàn dân tới-tấp trong vòng chợ-phiên
Ngã-Năm, Cầu-Sộp, Nấm-Chiêng
An-Tong đền thánh (1) tới liền Sen-Tê (2)
Đê Sộp lộ rõ cao ghê
Trường ga, nghĩa-địa đề-huề kế bên
Lò vôi, lò sũ, động tiên
Cửa hàng san-sát nối liền hai bên
Tiện đường ta cứ tiến lên
Tiệm ăn, tiệm thuốc dân hiền ước ao
Cộ xe qua lại nhao nhao.
Cầu-Vông qua ngọn sông đào (3) quê tôi
Đất buôn Khu-Hạ đây thôi
Tiếp đường gạch đỏ đây rồi Khu-Trung
Qua Ao-lấp tới Nhà-Chung (4)
Thánh-đường đồ sộ tháp chuông cao-vời
Hai hàng Nhà-Dẫy là nơi
Văn-Côi tư-thục học đường, học tôn
Thẳng đường ta cứ bon bon
Đình làng, giếng nước báo còn Thương Khu
Nhà Mụ, Bác-ái viện tu
Giêng sâu, ao rộng dân cư tiện dùng
Đồng Tranh, đồng Búa, đồng Bùi
Sông làng dẫn nước Mả-Tròi thông lên
Đồng Vối, Mả-Cũ, Nấm Thiêng
Đồng Me, đồng Sãi, đồng Viềng, cầu Tranh
Đê bống bao-bọc đồng xanh
Mê-Lô (5) đền thánh, tre xanh giữa đồng
Dân làng đa-số nhà nông
Hai vụ cầy cấy, trồng màu quanh nămVì đâu
lạc bước xa-xăm
Trăm thương ngàn nhớ cội căn hương đồng
Gợi buồn thơ cũ đồng hương
BỐn câu vịnh cảnh ly-hương ngậm-ngùi
Hương đồng cỏ nội thơ tôi
Nhớ chăng, chăng nhớ hỡi người đồng hương
Thực lòng gửi đến tôn hương
Cảnh xưa nguyên-quán quê-hương cội nguồn Ghi chú:
(1) Đền Thánh An-Tong
(2) Đền Thánh Vi-Sen-Tê
(3) sông đào (không viết hoa) vì là
sông nhân tạo tự đào thành sông
(4) Nhà-Chung thường được gọi là
nhà cho cha xứ và các cha khách
(5) Đền Thánh Ca-Mê-Lô
Đông
xuân băng tuyết 1/2000.
Phạm Hoàng
|
|

|
|
|
|