| |
VietCatholic News(18/05/2001).
Vào ngày 12.5.1973 ( Tháng Ðức Mẹ
Mân Côi ), Viện Thánh Thể hèn mọn của các nữ tu Nhật Bản tại YUZAWADAI ngoại
ô thành phố AKITA đã tiếp nhận chị Agnes Katsuko Sasagawa vào Nhà Tập của Tu
Viện. Chị Agnes là một tín đồ Phật Giáo thuần tuý trở lại đạo Thiên Chúa.
Chị vào nhà tu khi tuổi đời đã 42 cái xuân xanh, lúc đang mang trong người
một căn bệnh điếc nan y không thể cứu chữa được! Nhưng lạ thay, phép lạ
từ Thiên Ðàng đã chạm đến thân chị, và kể từ đó trở đi, tu viện khiêm
tốn của sơ Agnes đã vang lừng khắp thế giới, do sự thăm viếng thường xuyên
của khách hành hương mộ đạo bởi những phép lạ phi thường không thể giải
thích được.
Sự việc lạ thường đầu tiên xuất hiện vào ngày 12.6.1973 - Nghĩa là một
tháng sau khi Sơ ( Dì Phước hay Nữ Tu mà trong miền Nam hay gọi ) Agnes bước
chân vào cổng tu viện. Theo lời tường thuật của sơ thì vào hôm đó, từ Nhà
Tạm Thánh Thể tự nhiên có một tia sáng phát ra. Ðiềm lạ này đã xảy ra một
vài lần và thường xuyên xuất hiện theo sau là sương mù hay những làn khói
vây quanh bàn thờ. Trong khi những tia sáng ấy chiếu ra, thì sơ Agnes trông
thấy... " Có rất đông những con người tựa như Thiên Thần vây chầu xung
quanh bàn thánh trước Mình Thánh Chúa". Khi sự hiện hình này xảy ra thì
Ðức Giám Mục ITO đang ở trong tu viện để hướng dẫn tuần cửu nhật cho các
nữ tu. Trong khi đó, sơ Agnes có trách nhiệm là tâm sự và giải bày cho Ðức
Cha tất cả những trường hợp của sự thị kiến, cũng như tất cả những sự
việc và sự hiện hình đã xảy ra. Ðức Cha Ito và Giám Ðốc linh hướng tu
viện, cha Teij Ya suda cũng đã chứng kiến và làm nhân chứng cho nhiều sự việc
đã xảy ra.
Ðồng thời sơ Agnes cũng được chiếu cố bởi những sự thăm viếng của Thiên
Thần bản mệnh. Ðược hỏi để diễn tả lại Thiên Thần ra sao, sơ Agnes nói
rằng chị có thể cho biết như sau: " Thiên Thần có một gương mặt tròn
trịa bầu bĩnh và rất dễ thương, nét mặt biểu lộ sự trìu mến... Họ là
những người được bao phủ bởi ánh sáng trắng rực tựa như tuyết ".
Thiên Thần bản mệnh đã giải thích những bức thông điệp khác nhau và
thường cầu nguyện chung với chị, đôi khi Thiên Thần hướng dẫn và khuyên
nhủ sơ. Vào xế chiều ngày 28.6.1973, sơ Agnes phát hiện ra bên trong lòng bàn
tay trái của sơ có một vết thương bắt đầu hoành hành và trở nên nhức
nhối, đau đớn không thể chịu nổi. (Cũng cần nên biết ở điểm này, là vết
thương này là dấu Thánh của Chúa Giêsu in vào tay. Sơ Agnes là người tân
tòng mới vô đạo, nên chi Dì không hề biết mô tê gì về dấu Thánh in vào
lòng bàn tay cả ; và dĩ nhiên là sơ chẳng bao giờ ao ước để mang dấu Thánh
của Chúa).
Vào lúc sáng sớm ngày hôm sau, 6.7.1973, Thiên Thần bổn mạng lại xuất hiện
và nói với sơ rằng: " Những vết thương của Ðức Mẹ hiện đang mang trong
người còn đau đớn và sâu hơn của chị nhiều. Nào chúng ta hãy vào nhà
nguyện để cùng cầu nguyện nhé ". Sau khi đã vào nhà nguyện, Thiên Thần
bỗng nhiên biến mất. Sơ Agnes sau đó đã đến bức tượng gỗ Ðức Mẹ được
đặt phía bên phải của bàn thánh để cầu nguyện.
Bức tượng Ðức Mẹ đã được gọt đẽo từ một loại gỗ cứng của một loại
cây ở xứ Judea vào năm 1965 do một điêu khắc gia Phật Giáo Nhật Bản rất nổi
tiếng, đó là ông M. Saburo Wakasa. Bức tượng cao 3 phân Anh, đó là bức
tượng Ðức Mẹ đứng trước cây thánh giá, hai cánh tay của Mẹ để dọc hai
bên cạnh; hai lòng bàn tay hướng về phía trước. Dưới chân bức tượng là
trái địa cầu tượng trưng cho thế giới chúng ta.
Khi sơ Agnes tiến gần đến bức tượng, chị kể chuyện, " Tự nhiên tôi cảm
thấy bức tượng gỗ như biến thành một con người sống động và bắt đầu trò
chuyện với tôi... Sơ Agnes bị đắm chìm trong ánh sáng chói chang... Trong lúc
đó sơ nghe có một tiếng nói tuyệt vời, không thể diễn tả được đã đánh
động vào đôi tai hoàn toàn điếc của tôi ". Ðấng hiện hình ( Ðức Mẹ
) đó đã hỏi nhiều câu hỏi và trấn an sơ Agnes như sau: " Căn bệnh
điếc nan y của con sẽ được cứu chữa... sau đó Ðức Mẹ đã cùng đọc kinh
chung với nữ tu, đó là bài kinh do chính Ðức Giám Mục Ito đã sáng tác. Khi
đọc đến câu " Chúa Giêsu hiện thân trong phép Thánh Thể ", Ðức Mẹ
đã tự động thêm vào đó có 2 chữ thật ý nghĩa như sau: " Chúa Giêsu
THẬT SỰ hiện diện trong phép Thánh Thể ". Ðấng hiện hình dạy cho
biết: '' Từ giờ phút này trở đi, con sẽ là nhân chứng của sự thật ".
Và một lần nữa, Thiên Thần lại xuất hiện, để cùng đọc kinh dâng hiến cho
trái tim cực thánh Chúa Giêsu, đã thực sự hiện thân trong phép Thánh Thể.
Trước khi biến đi, Ðức Mẹ đã xin nữ tu Agnes: " Con hãy cầu nguyện thật
nhiều cho Ðức Thánh Cha, các Giám Mục và Linh Mục nhé...".
Sáng hôm sau, khi các nữ tu họp lại với nhau để đọc kinh nhật tụng tán
dương Thiên Chúa, họ đã khám phá ra máu ở bên cánh tay phải của bức
tượng Ðức Mẹ. Lại gần để kiểm soát cho rõ ràng hơn, họ thấy hai lằn chắn
ngang nhau làm thành hình dấu thập, chính giữa dấu thập là một cái lỗ mà
máu đã trào ra. Vết thương giống y hệt nếu chúng ta đem so với vết thương
ở cánh tay của sơ Agnes, nó chỉ khác có một điều là bàn tay ở bức tượng
nhỏ hơn, vì thế mà vết thương ở nơi bức tượng cũng nhỏ hơn. Vết thương
đã rỉ máu ra vào những ngày thứ sáu của tháng 7 trong năm 1973, đồng thời
vết thương nơi bàn tay của sơ Agnes cũng tuôn máu.
Một trong những sơ thấy hiện tượng lạ đã ghi nhận phản ứng của chị, khi
quan tâm về vết thương trên cánh tay của bức tượng: " Ðiều đó giống
như một vết cắt vào trong thịt vậy. cạnh của dấu thập lại có thần sắc
giống như thịt của con người, và nếu nhìn kỹ vào thớ thịt của da thì lại
giống như dấu in của tay của sơ Agnes. Tôi đã nói với lòng tôi ngay bây giờ
rằng, vết thương mà tôi trông thấy quả là thực...". Vết thương trên
cánh tay của sơ Agnes xuất hiện vào thứ năm 28.6.1973 đúng như lời báo
trước của Thiên Thần bản mệnh. Vết thương đã nhiệm mầu biến mất vào ngày
thứ sáu 27.7.1973 mà không hề để lại một dấu vết nào cả. Bức sứ điệp thứ
hai của Ðức Mẹ xảy ra vào ngày 3.8.1973, đúng ngày thứ sáu đầu tháng, khi
tiếng nói Thiên Ðàng xuất phát từ bức tượng nhắn nhủ rằng:
-... Rất nhiều người trên thế giới đã làm Thiên Chúa đau đớn khổ sở...
Ðể cho thế giới biết cơn thịnh nộ của Ngài, Thiên Chúa Cha trên Thiên Ðàng
đang chuẩn bị để giáng cơn thịnh nộ lôi đình để trừng phạt tất cả nhân
loại... Nhưng Mẹ đã ngăn chặn những tai nạn đang đến đó, bằng cách dâng
hiến cho Thiên Chúa những nỗi đau khổ của Chúa Con trên thập tự giá, giá
máu cứu chuộc của Ngài và các linh hồn yêu mến, những người đó đã an ủi
Ngài khi họ hình thành một đạo quân linh hồn để chiến đấu mãnh liệt chống
trả mọi tội lỗi do ma quỉ gây ra. Hãy cầu nguyện, làm việc đền tội và dũng
cảm hy sinh để làm dịu bớt những cơn nóng giận của Thiên Chúa Cha... Chính
vì thế, con phải bị trói buộc vào thập tự giá với 3 cây đinh. Ba cây đinh
đó là: (1) Ðức Khó Nghèo, (2) Ðức Khiết Tịnh, (3) và Ðức Vâng Lời. Trong 3
nhân đức đó, Ðức Vâng Lời là nền tảng cao quí hơn cả con nhớ nhé.
Khi sơ Agnes được tuyên khấn, sơ đã tuyên thệ 3 lời hứa đó. Ðồng thời
lúc đó vết thương trên cánh tay của sơ đã biến mất vào ngày 27.7.1973.
Còn vết thương nơi cánh tay của bức tượng Ðức Mẹ còn lưu lại cho tới khi
nó được thông báo là đã biến mất vào ngày 29.9.1973. Vào lúc đó bức
tượng đã bắn ra những tia sáng rực rỡ, tính ra như vậy vết thương đã lưu
lại bức tượng trong thánh đường đúng 3 tháng. Trong khi đó thì cũng có
những cuộc tranh cãi thật gay gắt về những sự việc được xem là xác thực về
những vết thương nơi cánh tay của bức tượng Ðức Mẹ đã rướm máu.
Ðức Giám Mục Ito thì bảo rằng, những bản báo cáo trình ngài thì có phần
mâu thuẫn như: "... Bức tượng đã không thấy đổ mồ hôi máu hay khóc ra
máu bất cứ lúc nào!". Nhưng lạ thay, đang lúc cầu nguyện vào giờ kinh
nguyện tối ngày 29.9.1973, tất cả cộng đoàn nữ tu đã trông thấy một phép
lạ. ( Xin nói rõ phép lạ này Ðức Mẹ cho tất cả các nữ tu được diễm phúc
thấy để khỏi hồ nghi nữa ) Ánh sáng rực rỡ phát xuất từ bức tượng. Ngay
lúc đó thì hầu như trọn vẹn thân hình bức tượng đã bị bao phủ bởi một
làn hơi nước tựa như mồ hôi trên gương mặt Ðức Mẹ. Thiên Thần bản mệnh
của sơ Agnes thông báo cho chị: " Ngay cả Mẹ Maria cũng buồn hơn khi Mẹ
đổ máu, hãy lau chùi mồ hôi đi chị. "
Thế rồi có năm chị nữ tu lập tức chạy đi lấy bông gòn, để thắm hơi nước
bốc ra từ bức tượng. Những miếng bông gòn đó được cất giữ thật cẩn
thận, được biết sau đó phép lạ mùi thơm hoa hồng đã toả ra, đó là điều
mà các chị nữ tu mô tả là hương thơm ngào ngạt từ Thiên Ðàng. Phép lạ
mùi thơm Thiên Ðàng này đã tiếp tục được cảm nhận ra trong suốt ngày
15.10.1973. Sau đó thì những mẫu vật bông gòn đó đã được gửi đến Viện
Ðại Học tỉnh Akita để phân tích thử nghiệm. Kết quả của các khoa học gia
trong phòng thí nghiệm cho biết rằng, chất nước trong bông gòn thu nhận được
quả thực là của con người. Chúng tôi dám khẳng định chắc chắn như thế.
Lần thứ ba và cũng là bức thông điệp cuối cùng của Ðức Mẹ Akita Nhật Bản
xảy ra vào ngày 13.10.1973, nhân ngày lễ kỷ niệm phép lạ lớn ở Fatima, Bồ
Ðào Nha. Lại một lần nữa, bức tượng Ðức Mẹ lại tỏa ra những hương thơm
ngát từ trời cao. Sau đó trong ngày, trong giờ đọc kinh và lần hạt Mân Côi,
sơ Agnes lại một lần nữa nghe những tiếng nói của Ðức Mẹ căn dặn, nhắn nhủ
cho thế giới như sau:
-... Cũng như Mẹ đã nói với con, nếu như nhân loại ( con người ) không biết
ăn năn thống hối và sửa đổi chính họ, Ðức Chúa Cha sẽ giáng một cơn
thịnh nộ thật kinh hoàng để trừng phạt tất cả nhân loại. Sự trừng phạt đó
sẽ lớn hơn cả trận lụt Ðại Hồng Thủy khi xưa thời ông Thánh Tổ Nôe, đó
là điều mà chẳng một ai đã thấy lúc trước. Lửa từ trời sẽ tuôn xuống và
hủy diệt cả nhân loại, kể cả người lành và kẻ xấu; ngay cả những Linh Mục
và kẻ có lòng thành tín. Những người được sống sót sẽ tìm thấy chính họ
bị hủy hoại và cô độc khi họ gần kề bên cửa tử. Con hãy nhớ rằng chỉ có
một thứ vũ khí duy nhất còn lại cho con, đó là cỗ tràng hạt Mân Côi và
những dấu hiệu đã để lại bởi Thiên Chúa Con. Mỗi ngày con nhớ phải đọc
kinh với tràng hạt. Khi con đọc kinh Mân Côi, hãy cầu nguyện cho Ðức Thánh
Cha, các Giám Mục và Linh Mục.
Công việc của Ma quỷ là sẽ, đang và đã xâm nhập vào ngay cả vào trong lòng
của giáo hội, chẳng hạn như các Hồng Y chống đối các Hồng Y, Giám Mục
chống đối Giám Mục. Các Linh Mục cùng những người tôn sùng ta sẽ bị khinh
miệt và bị chống đối bởi những kẻ phá hoại. Nhà thờ và bàn thánh bị bỏ
hoang, giáo hội sẽ tràn ngập những kẻ chấp nhận, họ chỉ biết thương lượng
hay thích thỏa hiệp, và ma quỷ sẽ dạy dỗ rất nhiều Linh Mục và lôi họ theo
chúng, có nhiều linh hồn đã hiến dâng cho Chúa sẽ xa rời Ðức Thượng Ðế
vĩnh viển. Như con đã thấy có rất nhiều Linh Mục đã cởi trả lại áo nhà
tu!!!
Ma qủi sẽ đặt biệt chống đối và làm xiêu lòng những kẻ đã và đang hiến
dâng đời họ cho Thiên Chúa. Ðó là điều mà Mẹ đau lòng, là có một số
các linh hồn đã sa đoạ mất lòng Chúa. Nếu tội lỗi cứ tăng nhanh theo con số
và trầm trọng như thế này, chắc chắn sẽ không còn sự tha thứ nào cho chúng
cả!... Hãy cầu nguyện rất nhiều với cỗ tràng hạt (sợi chuỗi - xâu chuỗi )
Mân Côi. Các con nhên nhớ rằng Mẹ có đủ khả năng và thẩm quyền để cứu
con thoát khỏi những đại họa sẽ xảy đến. Ðối với những người biết đặt
niềm tin vào Mẹ sẽ được cứu thoát trong ngày tận thế sau hết. Ðó là ngày
phán xét cuối cùng.
Sau sứ điệp của Ðức Mẹ, phép lạ liền xảy ra cho các nữ tu đó là, ánh
sáng chói loà đã làm đắm chìm các nữ tu và cũng chính ánh sáng đó đã
từ từ biến mất. Vào khoảng cuối tháng 5.1974, một phép lạ khác xảy ra: - đó
là trong khi bộ tóc và áo của bức tượng vẫn giữ y nguyên sự tự nhiên của
gỗ, thì gương mặt, hai cánh tay và chân đã có thể phân biệt bằng màu đen
đậm và hơi nâu đỏ. Ðể nói rõ nghĩa hơn ở điểm này, là gương mặt, tay
chân của Ðức Mẹ đã tự nhiên đổi màu sắc! Tám năm sau đó, khi nhà điêu
khắc đến để xem lại bức tượng, kiệt phẩm của mình, ông không thể dấu
được sự ngạc nhiên khi thấy toàn thân của Ðức Mẹ đã biến đổi màu sắc,
và chính gương mặt của Ðức Mẹ cũng đổi nét nữa! Người biết rõ nhất về
bức tượng Ðức Mẹ là điêu khắc gia Nhật Bản, thế mà ông không nhìn ra tác
phẩm điêu khắc năm xưa của mình, chỉ vì bức tượng gỗ năm xưa đã biến
sắc hoàn toàn. Thế thì ai đã sửa chữa lại bức tượng? Ðây có phải là
phép lạ từ Thiên Ðình không?
Còn một sự kiện phi thường khác được trình bày sau đây. Vào ngày
04.01.1975, toàn thể cộng đoàn và cha Yasuda, Giám Ðốc Linh Hướng đã phải
ngạc nhiên vì bức tượng Ðức Mẹ Ðồng Trinh bắt đầu khóc, và đã khóc 3
lần trong ngày hôm đó. Ðồng thời để làm nhân chứng cho sự chảy nước mắt
này, Ðức Cha ITO cùng các thành viên của cộng đoàn đã gia nhập theo các nữ
tu để tĩnh tâm cho năm mới. Mười năm sau, những chứng minh khoa học đã phải
nhường bước cho những sự giải thích được gọi là siêu tự nhiên, hay nói
đúng hơn là không thể giải thích theo ngôn ngữ của con người được. Ðiều
được ghi nhận rằng những giọt nước mắt hứng được từ bên trong khoé mắt
chảy dọc xuống hai gò má, và những giọt nước mắt từ áo Ðức Mẹ ở phía
gần cổ, phủ dài xuống thân áo và đến tận quả địa cầu dưới chân Ðức
Mẹ. Cha Yasuda đã viết lại trong cuốn nhật ký, sau được viết thành sách của
ngài về những giọt nước mắt của Mẹ Maria qua bức tượng như sau:
-... Có một kẽ nứt nhỏ đã bắt đầu xuất hiện, thời tiết trong năm lúc đó
thì hoàn toàn khô ráo cả. Ðây quả thực là một phép lạ, bởi vì nước đã
chảy ra từ gỗ cứng, nhưng ở đây còn những điều kỳ diệu hơn nữa, vì chất
nước lỏng ấy có vị mặn của nước mắt tự nhiên của con người. Chính tôi
là người cũng đã nếm thử nước mắt. Ðiều đó chắc chắn rằng nó đã tuôn
trào ra từ đôi mắt khổ đau của Ðức Mẹ AKITA Nhật Bản.
Cuối cùng thì Ðức Cha Ito đã dàn xếp một cuộc gặp gỡ với giáo sư Tiến Sĩ
y khoa, ông Sagisaka, một người ngoại giáo và là một chuyên viên uyên bác
đặc biệt trong ngành pháp y học, để làm một cuộc khảo sát khoa học thật ''
Nghiêm Chỉnh '' của ba chất nước lỏng. Tuy nhiên Ðức Giám Mục cũng không
tiết lộ cho giáo sư ấy biết những thứ đó là thứ mô tê chi cả! Những kết
quả qua cuộc thí nghiệm cho biết rằng: " Những chất dính chặt vào miếng
vải mỏng mà Ðức Cha mang đến cho ông làm thử nghiệm là máu thật của con
người. Còn mồ hôi và nước mắt thu lượm được trong hai mẫu bông gòn là
của con người thật ". Hơn thế nữa, máu tìm được thuộc nhóm B và mồ
hôi và nước mắt thuộc nhóm AB (Máu của sơ Agnes cũng thuộc nhóm B).
Một Linh Mục dòng Tên không phải là người Nhật Bản từ đại học ở Ðông
Kinh đã được Ðức Cha Ito chỉ thị cho tiến hành và hướng dẫn một cuộc thí
nghiệm khác. Những người dấu tên này thường là những người khảo cứu về
học thuyết hay những gì có liên quan đến Ðức Mẹ được gọi là Thánh Mẫu
Học. Bây giờ thì họ được ám chỉ như người điều tra hay thẩm vấn. Sơ
Agnes cũng bị liên quan đến sự điều tra này. Bằng những luận điệu và những
lời đàm tiếu không mấy tốt đẹp, những người này tin rằng, sơ Agnes có đủ
mánh khoé hoặc bằng cách này hay bằng cách khác có thể đã " Tiêm chích
và truyền đến " máu của sơ trên tay của bức tượng, và ngay cả nước
mắt và mồ hôi nữa. Trong khi đó thì sơ Agnes rất đau khổ bởi vì thật sự
mà nói thì chị đâu có làm điều đó! Vã lại sơ lại là một tân tòng, một
vị tập sinh đang tu học trong nhà tập đâu dám làm những điều quái gở như
thế? Nếu chúng ta đặt giả thuyết là chị dám ương ngạnh làm điều đó thì
hỏi thử nó có ích lợi gì cho chị? Hay là chị sẽ bị Mẹ bề trên nhà tập
tống cổ về thế tục cho xong và để khỏi chướng tai gai mắt. Khi những người
thẩm vấn được hỏi để giải thích, tại sao điều này có thể xảy ra được
trong khi chính sơ Agnes đã về thăm gia đình,, nhà của chị cách tu viện đến
250 dặm đường? hoặc khi sơ đang nằm ngủ và khiếm diện khi các phép lạ xảy
đến? Thì các điều tra viên đã đồng giải thích như sau: " Có chi lạ
đâu, bởi vì một sơ tòng phạm khác đứng gần bên bức tượng, cũng đã bắt
chước những mánh khóe ảo thuật giống như sơ Agnes thế thôi ". Thật đây
là những lời nguỵ biện có khác. Ðiều này đã ứng với những điều Ðức Mẹ
đã phán với chị Agnes rằng, con sẽ bị khốn đốn vì làm nhân chứng cho Mẹ.
Nhưng cuối cùng Mẹ con mình sẽ thắng.
Chưa hài lòng về ý kiến này, Ðức Cha Ito được khuyên bảo nên hỏi ý kiến
của Ðức Khâm Sứ Truyền Giáo của Toà Thánh, ngài cũng nên tìm một sự trợ
giúp của Ðức Tổng Giám Mục ở thủ đô Ðông Kinh, để thành lập một hội
đồng điều tra đúng qui chế của giáo hội. Khốn khổ thay, người thẩm vấn
lại là vị chủ tịch của nhóm điều tra trước. Vị này đã làm một cuộc
điều tra cá nhân mà không cho nhân viên thuộc hạ nào đến viếng thăm tu
viện cả. Cuối cùng hội đồng tuyên bố một phán quyết rất bất lợi cho Ðức
Mẹ Akita Nhật Bản. Nói tóm lại cho dễ hiểu, họ không tin đây là phép lạ
của Ðức Mẹ. Nhưng cũng rất may cho sơ Agnes, Ðức Cha Ito là người con yêu
dấu của Ðức Mẹ, ngài quyết tâm làm sáng tỏ và truyền bá bức thông điệp
của Ðức Mẹ. Vì thế ngài hy sinh dấn thân vào con đường mạo hiểm đầy gian
nan thử thách này, vì chính ngài là nhân chứng của Ðức Mẹ. Chúng ta thấy
Ðức Mẹ rất thông Minh sáng suốt; vì nếu không có các Linh Mục và Ðức Cha
làm nhân chứng sự thật thì người ta sẽ cho rằng chị Agnes là một kẻ mất
trí hay kẻ điên kẻ khùng thế thôi.
Cũng vẫn chưa thoả mãn và chấp nhận một lời phán quyết tiêu cực, mà chính
ngài đã làm nhân chứng về những sự việc đã nêu trên, Giám Mục Ito đã xin
lời khuyên từ La Mã của Thánh Bộ Truyền Giáo về Học Thuyết Niềm Tin, cùng
với Hiệp Hội Truyền Bá Ðức Tin. Sau đó Ðức Cha được khuyên nên thành lập
một hội đồng khác, để khảo sát lại những sự việc ấy từ lúc ban đầu. Hội
đồng này có nhiệm vụ phải cung cấp hoặc làm sáng tỏ và có ích lợi về
phán quyết có liên quan đến những chuyện siêu tự nhiên đã xảy ra. Ðức Cha
Ito học được một bài học quí giá, là muốn tất cả mọi sự thành công tốt
đẹp cho Ðức Mẹ, những người làm việc trong ban tổ chức phải đồng thuận
với ngài, nếu không sẽ có rất nhiều chuyện lôi thôi phiền phức xảy đến.
Rất may ngài tìm được rất nhiều Linh Mục đồng chí hướng.
Nước mắt chảy ra vào ngày 8.12.1979 đã được quay phim bởi nhân viên của
đài truyền hình Nhật Bản vào lúc 11 giờ đêm. Như thế thì mười mươi rõ
ràng là đâu có sự gì nguỵ tạo hay phao tin đồn thất thiệt? Rõ ràng ống
kính của đài truyền hình đặt thu hình trước bức tượng Ðức Mẹ cơ mà?
Không những thế, Cuốn phim này đã được quay vào ngày lễ Ðức Trinh Nữ Maria
Vô Nhiễm Nguyên Tội, và đã được trình chiếu cho 12 triệu khán thính giả
người Nhật thưởng thức. Cũng xin được nói rõ, nước Nhật là nước theo
đạo Phật, và Phật Giáo ở nước Phù Tang được xem là Quốc Giáo. Bây giờ
thì đến lượt các nữ tu Nhật Bản của Tu Hội Thánh Thể tường trình những
diễn tiến của phép lạ Ðức Mẹ Akita, trong lúc phát thanh tin tức đi khắp
địa cầu. Nếu quí vị độc giả còn nghi ngờ hay không tin về phép lạ này,
quí vị nên đi một chuyến hành hương về xứ Phú Sĩ Sơn, để được các nữ
tu cho xem lại cuốn phim gốc đó được cất giữ thật kỹ lưỡng ở nhà dòng.
Không những thế, quí vị còn được diễm phúc trò chuyện thân mật với sơ
Agnes, người đã được thị kiến Ðức Mẹ. Xin được nói rõ là quí vị nên
học dăm ba câu tiếng Nhật, chứ nếu không thì phải dùng thông ngôn viên ở
Nhật đắt tiền lắm đó. Trong khi đó người ta được biết dì phước Agnes
cũng đang cố gắng để học thêm tiếng Anh, vì có rất nhiều khách hành hương
trên thế giới tụ về Nhật Bản để truyện trò với chị và thăm viếng ngôi
đền thờ nghèo khó này.
Ðiêu khắc gia của bức tượng, ông Saburo Wakasa, một công dân của thành phố
Akita, được hỏi phản ứng của ông như thế nào về những nỗi kinh ngạc khi
ông chú ý đến bức tượng? Người điêu khắc vui vẻ trả lời:
- Bức tượng Ðức Mẹ Maria là một công việc đầu tiên của tôi, đã nối liền
hoặc có liên hệ giữa Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo. Trong nhiều bức tượng
khác nhau mà tôi đã làm cả về Phật và Chúa, thì đây là bức tượng duy
nhất mà những phép lạ đã xảy ra... Chính tay tôi đã đẽo gọt cả bức
tượng Ðức Mẹ, cùng trái cầu và thập tự giá từ những khúc gỗ nguyên mẫu,
chính vì thế mà bức tượng không có sự ghép khớp cho ăn với nhau... Khúc gỗ
mà tôi điêu khắc bức tượng Ðức Mẹ Maria là một loại gỗ khô và cứng...
Khi được hỏi thế ông suy nghĩ sao về "Phép Lạ Nước Mắt" đã chảy
ra từ bức tượng Ðức Mẹ, ông tự tại thản nhiên trả lời bằng tiếng Nhật
như sau: "FUSHIGIDESU" nghĩa là " Ðây là một sự huyền bí".
Tôi làm sao thấu hiểu được, việc này chỉ có Ðức Mẹ mới có thể giải
thích tường tận?
Một cuộc thí nghiệm khác về những chất lỏng đã được khảo sát bởi Karon
Sagisaka, bác sĩ y khoa của bộ pháp y thuộc trường Ðại Học Y Khoa tỉnh Akito
cho biết, những kết quả đó đã được ghi nhận vào ngày 30.11.1981 và được
tiết lộ như sau: " Vật được xét nghiệm có liên quan đến dung dịch sống
của con người, và nó trực thuộc vào nhóm máu O khi phân loại ". Kết quả
đầu tiên cho thấy máu đem phân loại thuộc nhóm B, nước mắt và mồ hôi
thuộc nhóm AB, và như thế điều đó đã làm sáng tỏ và xác định được
chất nước thuộc trong ba nhóm phân loại. Ðây là những bằng chứng y khoa cụ
thể, nước mắt và mồ hôi của những cuộc xét nghiệm lẻ loi đều thuộc về
một nhóm máu. Vì thế trong một con người, chất nước khi đem phân tích không
thể có kết quả khác nhau, nghĩa là nó phải có chung một nhóm máu. Nữ tu
Agnes thuộc vào nhóm máu B, chính vì thế theo thiển ý của chúng tôi, sơ
không thể nào "Tiêm Chích hoặc Truyền Máu" vào bức tượng ấy
được. Trong khi đó thì máu và chất nước của bức tượng khi đem đi thí
nghiệm phân chất, nó lại thuộc nhóm máu O và dung dịch nước lỏng thuộc AB.
Vì vậy để đi đến kết luận một cách dứt khoát, nhận xét của chúng tôi về
viên điều tra ẩn danh cho sơ Agnes khi nói đến mánh khóe hay khả năng tiêm
chích chất máu, hay dùng phương pháp ảo thuật làm mờ mắt người khác là
hoàn toàn vô căn cứ, và dĩ nhiên là đã bị bác bỏ ngay lập tức. Sơ Agnes
đã âm thầm cầu nguyện và bây giờ nhờ vào khả năng tinh vi của khoa học, sơ
mới được minh oan! Nghĩ đến thế sự cuộc đời cũng thật oái oăm và nghiệt
ngã thay, bởi vì kẻ hiền lành và ngay thẳng thường hay bị đối xử bất công
và tàn nhẫn!
Vào ngày lễ Ðức Mẹ Sầu Bi, bức tượng gỗ đã khóc một lần cuối cùng. Hai
tuần lễ sau đó, Thiên Thần bản mệnh của sơ Agnes đã trình cho sơ xem thấy
một cuốn Thánh Kinh lớn bao phủ bởi ánh sáng tuyệt diệu trên Thiên Ðàng. Khi
mở cuốn Thánh Kinh đó ra, nó có liên quan đến Chúa sáng tạo ra thế giới (
Sách Sáng Thế Ký, đoạn 3:15 ). Thiên Thần giải thích rằng, đoạn Thánh Kinh
mà chị trông thấy đã có một sự liên hệ đến nước mắt của Ðức Mẹ Maria
và Thiên Thần nói tiếp:
- Số 1 0 1 tự nó có ý nghĩa. Ðiều này biểu hiệu cho tội lỗi đã gia nhập
vào thế gian bởi một người đàn bà; và cũng bởi một người đàn bà khác (
ý nói đến Ðức Mẹ ) mà sự cứu rỗi đã đến thế gian. Con số 0 ở giữa hai
con số biểu hiệu cho sự sống vĩnh cửu ( ý nói Thiên Chúa ) người đã đến
từ muôn thuở và cho đến mãi mãi muôn đời. Số 1 phiá trước tượng trưng
cho Eva và số 1 sau cùng tượng trưng cho Ðức Mẹ Ðồng Trinh Maria. Nếu không
được Thiên Thần giải thích, sơ Agnes và chúng ta chẳng hiểu chi cả? Vì đây
rõ ràng là một ẩn số của Thiên Ðình.
Sự chảy nước mắt của Ðứ Mẹ lần thứ 101 có y nghĩa, nó đã xảy ra không
được đều đặn và cách khoảng từ 4.1.1975 đến ngày 15.8.1981. Theo những dữ
kiện và tài liệu được ghi nhận của các chị em nữ tu, thì số nhân chứng
đã mục kích Ðức Mẹ khóc đã không được ghi nhận rõ ràng trong năm
trường hợp. Tuy nhiên, tất cả những lần chảy nước mắt của Mẹ đã được
kiểm chứng không quá mười người, những lần khác khi nước mắt Ðức Mẹ chảy
có rất nhiều người đến xem. Ðôi lúc số những người đến xem là 46, 55
người và lần cuối cùng có tới 65 người đến chứng kiến phép lạ. Một số
nhân chứng là những người ngoại giáo và một số người là thành phần Phật
Giáo lỗi lạc, kể cả ông thị trưởng của thành phố. Những người này đã
rất ngạc nhiên khi chứng kiến điềm lạ này.
Như đã được thông báo lúc ban đầu, nữ tu Agnes là người mang căn bệnh
hoàn toàn điếc không chữa được khi sơ gia nhập vào cộng đoàn nữ tu, chị
đã bị điếc trước ngày 16.3.1973. Sau đó sơ tạm có thể nói, và hiểu
được những thông điệp phát ra bằng miệng hoặc mấp máy ở miệng. Cũng như
Thiên Thần bản mệnh tiên đoán, sơ tạm nghe được vào ngày 13.10.1974. Nhưng
sau đó bệnh điếc lại trở lại vào ngày 7.3.1975. Cuối cùng thì bệnh điếc
nan y đã được cứu chữa hoàn toàn và dứt điểm vào ngày 30.5.1982, đúng
như lời tiên đoán của Ðức Mẹ khi ngài tuyên bố bức thông điệp đầu tiên
cho chị vào ngày 6.7.1973. Hầu hết những cuộc chữa bệnh đều xảy ra trong chớp
nhoáng đang khi chầu phép Thánh Thể Chúa Kitô. Sơ Agnes nay đã bình phục và
nghe thấy thật rõ ràng, ngoại trừ sơ còn một căn bệnh đau khớp xương còn
hơi vất vả khổ sở ở đôi bàn tay mà thôi.
Bộ Thánh Luật Canon của Giáo Hội Công Giáo liên quan đến sự giám định về
việc Ðức Mẹ hiện ra đã được phê chuẩn và phát hành vào năm 1978. Chiếu
theo bộ luật ấy thì văn phòng Toà Thánh La Mã: "... Cơ quan có thẩm
quyền phải đem lại một kết luận có liên quan đến sự việc hiện ra của Ðức
Mẹ được xem là chính xác nhất, và sau đó sẽ gửi văn thư và dữ kiện đến
Giám Mục của Giáo Hội nơi mà sự hiện ra được xác nhận..." Nói tóm
lại cho dễ hiểu, khi phép lạ của Chúa Giêsu hay của Ðức Mẹ xảy ra, những
người được diễm phúc trông thấy phép lạ hay tiếp xúc với Ðấng Vô Hình,
họ phải có trách nhiệm báo cáo với Linh Mục Giáo Xứ hoặc các Cha Linh Hướng
nếu chuyện này xảy ra trong phạm vi tu viện v.v Nếu như các ngài xác nhận là
phép lạ thật, các Cha phải có bổn phận báo cáo lên ngay cho Ðức Giám Mục
địa phận. Ðức Cha sẽ trình lên Ðức Tổng Giám Mục, Ðức Tổng sẽ trình lên
Ðức Hồng Y Giáo Chủ của quốc gia đó; sau cùng thì Ðức Hồng Y sẽ trình lên
Ðức Giáo Hoàng qua một hội đồng xét duyệt thật đặc biệt của Toà Thánh.
Sau đó uỷ ban này của Toà Thánh sẽ dày công nghiên cứu và thẩm tra mọi chi
tiết của sự kiện bởi những nhà thần học, khoa học, Thánh Mẫu Học v.v. Sau
đó họ chờ ngày sẽ long trọng tuyên bố phép lạ hoặc giả là thông điệp hay
sứ điệp gì đó mà Ðức Thánh Cha cảm thấy Ngài có trách nhiệm phải thông
báo cho nhân loại của triều đại của ngài. Ðây mới chỉ là tóm lược đại
thể những tiến trình theo Giáo Luật của Giáo Triều Công Giáo La Mã, trên
thực tế chúng ta thấy nó còn rất nhiều những rắc rối hơn thế nữa.
Trở lại vấn đề, trong bức thư giáo dân ( Thư gửi tín hữu - THƯ CHUNG ) đề
ngày 22.4.1984, Ðức Giám Mục John Shojiro Ito, Giám Mục điạ phận Nigata, viết
cho giáo dân nhân sự kiện kể trên, " Ta nhân danh quyền của Giáo Hội
Hoàn Vũ và Giáo Hội Ðịa Phương, nay có những lời nhắn nhủ cho giáo dân
dưới sự chăm sóc của ta, nay ta trịnh trọng xác nhận là giáo phận của chúng
ta sẽ tôn kính đặc biệt danh thánh Ðức Mẹ AKITA Nhật Bản ". Ðức Giám
Mục nhấn mạnh rằng tất cả những sự việc đã xảy ra, chỉ là sự tôn kính
Ðức Mẹ chứ không phải là học thuyết buộc phải tin. Ðồng thời Ðức Cha cũng
nhấn mạnh thêm trong bức thư giáo dân, Ngài nói Ngài đã quen biết nữ tu
Agnes Sasagawa đã hơn 10 năm trời,theo thiển ý của Ðức Cha, " Sơ là một
phụ nữ lịch lãm, một người có tinh thần tốt và rất ngay thẳng thành thật
với chính lòng mình và bằng hữu. Sơ chẳng có điều chi là khó khăn cả; chị
luôn luôn khắc sâu vào tâm thức tôi là một con người bình thường. Những
bức thông điệp mà chị lĩnh hội từ Ðức Mẹ, không thể được xem là kết
quả của sự tưởng tượng hoặc là ảo tưởng chi cả. Quả thực đó chính là
sứ điệp mà chính Ðức Mẹ muốn lập lại bức Thông Ðiệp ở FATIMA cho con cái
Mẹ ở cuối thế kỷ thứ 20 này ".
Bốn năm sau đó, ngày 20.6.1988,đang lúc Ðức Giám Mục thăm viếng Toà Thánh
La Mã, thì Thánh Bộ về Học Thuyết Niềm Tin đã chính thức chấp nhận nội dung
bức thư tông đồ giáo dân của ngài. Văn phòng Giám Mục Ito đã tường trình
về những bức thông điệp của Ðức Mẹ và xác nhận những sự hiện ra của Ðức
Mẹ AKITA Nhật Bản vào tháng mười 1988, đồng thời còn ban hành một tạp chí
có tên gọi " 30 ngày ". Trong số báo tháng 8/1990, Ðức Hồng Y Giáo
Chủ Nhật Bản, người có mối giao tình rất thiện cảm với Ðưc Cha nói như
sau: " Tôi chẳng có điều gì hay có kết luận chi để phản đối bức Tâm
Thư Giáo Dân của ngài Giám Mục ". Không những thế, chính Ðức Hồng Y
RATZINGER đã đích thân mời Ðức Giám Mục và đã ưng thuận thông báo cho
ngài được tiếp tục tiến hành những cuộc hành hương đáng tôn kính ấy.
Chuyện Phép lạ AKITA Nhật Bản xảy ra tính đến nay đã đúng 24 năm ( từ ngày
12.6.1973 - 12.6. 1997 ). Ðầu tiên phép lạ xảy ra trong một tu viện nghèo khó
và đơn sơ. Nữ tu được diễm phúc thị kiến Ðức Mẹ là một phụ nữ tân
tòng mới trở lại đạo Công Giáo, trước kia chị là tín đồ trí thức Phật
Giáo. Nay thì chị đã trở nên một dụng cụ chính mà Thiên Chúa muốn truyền
đạt sứ điệp của Nước Trời ; đó là chúng ta phải ăn năn đền tội chuẩn
bị đón ngày Chúa đến. Ngày đó quả thực không xa lắm đâu. Ngày nay tu
viện hèn mọn Thánh Thể ở Akita đã trở thành một trung tâm hành hương nổi
tiếng ở Nhật Bản và trên toàn thế giới. Trong khi đó thì tất cả hồ sơ
điều tra và thẩm vấn về nữ tu Agnes đã kết thúc và đã được các Ðức
Giám Mục và Hồng Y Nhật Bản đệ trình lên cho Toà Thánh Rôma. Chúng ta cũng
biết Ðức Giáo Hoàng rất dè dặt khi tuyên bố với Giáo Hội đó là phép lạ
và sứ điệp của Ðức Mẹ, vì thế cho tới nay Tòa Thánh vẫn tiếp tục cầu
nguyện và điều tra về biến cố này. Có lẽ nay mai chính đích thân Ðức
Thánh Cha sẽ ra phán quyết về bí mật Ðức Mẹ AKITA Nhật Bản cho thế giới
biết.
Lm. Giuse Xuân Trường
|
|