VietCatholic News (11/10/2003 )
Thuở còn nhỏ, tôi đã sớm nhận
thấy sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo.
Lớn lên, tôi cảm được sâu sắc cảnh nghèo. Nghèo thì hèn. Nghèo thì khổ.
Cái Nghèo, cái Hèn, cái Khổ dính vào nhau khăng khít. Đồng
thời, tôi cũng nhìn được cảnh giàu. Giàu thì sang. Giàu thì có. Cái Giàu,
cái Sang, cái Co đồng hành ung dung.
Khi đi qua nhiều nơi, ở lại nhiều nước, tôi lại thấy giàu nghèo làm
thành những giai cấp. Giàu là giai cấp cao. Nghèo thuộc giai cấp thấp. Cấp
cao, cấp thấp đều có nhiều bậc. Đôi khi, người nghèo khổ bậc dưới
không thể và cũng không dám nhìn người giàu sang ở bậc trên. Vì khoảng
cách quá xa về địa lý, nhất là về tâm lý.
Trung tâm và ngoại biên.
Để đơn giản hoá tình trạng chênh lệch giữa giàu và nghèo, tôi tạm chọn
cho mình một hình ảnh gợi ý. Hình ảnh đó là Trung tâm và Ngoại
biên.
Trung tâm có thể áp dụng về nhiều mặt. Như trung tâm kinh tế, trung tâm
văn hoá, trung tâm chính trị, trung tâm tôn giáo. Những ai được ở trong
hoặc gần những trung tâm đó thường được coi là những người hưởng
nhiều may mắn về phát triển, về danh dự, về cuộc sống.
Ngoại biên cũng được hiểu về nhiều lãnh vực như trên. Những ai
ở ngoại biên kinh tế, văn hoá, xã hội, tôn giáo thường phải chịu nhiều
mất mát, thua thiệt, kém cỏi.
Trung tâm và ngoại biên không hẳn chỉ là địa lý, mà còn là tâm lý và
pháp lý.
Thời Chúa Giêsu giáng thế, theo truyền thống lâu đời, thì Giêrusalem là
trung tâm chính trị, văn hoá và kinh tế, còn đền thờ là trung tâm tôn
giáo. Đền thờ này cũng toạ lạc tại Giêrusalem.
Giêrusalem là nơi tập trung những người có địa vị, nắm quyền lực, sống
trong phẩm trật và được ưu đãi.
Đền thờ là nơi thờ phượng của người có đạo. Gian trên dành cho các
chức sắc. Gian giữa dành cho các đàn ông Do Thái. Gian cuối dành cho phụ
nữ và trẻ con. Ngoài hè dành cho các người ngoại giáo, các kẻ tội lỗi
và những ai tàn tật.
Chúa Giêsu đi về ngoại biên.
Trong một tình hình như thế, Thiên Chúa có những lựa chọn lạ lùng.
Thực vậy, Chúa Giêsu xuất hiện ở Galilêa. Xứ này là vùng biên, xa trung
tâm Giêrusalem.
Người sinh ra trong một gia đình làm nghề mộc, thuộc dạng nghèo.
Như vậy, Người mang thân phận kẻ nghèo để chia sẻ với thế giới những
người ngoại biên.
Khi đi rao giảng Tin Mừng, Người ưu tiên để ý đến những người nghèo,
người người tội lỗi và những người cùng khổ. Người áp dụng vào
chính mình những lời tiên tri Isaia xưa đã nói:
“Thần Khí Chúa ngự trên tôi, Chúa đã xức dầu tấn phong tôi.Sai tôi
đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,17-20).
Người cũng đã xác định: “Thầy đến không phải để kêu gọi người
công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13).
Người muốn dạy cho mọi người thấy: Trước mặt Chúa không có vấn đề
ưu đãi cho trung tâm và bỏ quên hoặc loại trừ những ngoại biên. Người
nói rõ ràng với người phụ nữ ngoại giáo xứ Samaria:
“Này chị, hãy tin tôi: Đã đến giờ, các người sẽ thờ phượng Chúa
Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem... Nhưng giờ đã đến, và
chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ
Chúa Cha trong tinh thần và trong sự thực. Vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ
phượng Người như thế” (Ga 4,21-24).
Suốt đời, Chúa Giêsu đã sống gần gũi những người ngoại biên, Người
đến với họ, Người chia sẻ những nỗi đau của họ, Người được kể
như người ngoại biên. Người cho họ thấy Người rất thương họ, và
tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết
cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người.
Người hiến thân đến tột cùng vì tình yêu. Chính ở điểm hiến thân
trên thánh giá, mà Người làm vinh danh Chúa Cha, và chính Người được tôn
vinh. Người đã nói trước khi tự nạp mình chịu chết: “Lạy Cha, giờ
đã đến. Xin Cha tôn vinh Con Cha, để con Cha tôn vinh Cha” (Ga 17,1).
Người muốn các môn đệ Người cũng hãy theo gương Người, mà đem Tin Mừng
đến cho người nghèo khổ như vậy. Muốn được thế, các ngài cần đón
nhận sẵn tình thương cứu độ của Người. Để đón nhận, các môn đệ
phải rất khiêm nhường trong phục vụ. Gương phục vụ khiêm nhường sau
cùng Nguời trối lại là chính Người quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ.
Sau đó, Người truyền dạy : « Thầy đã nêu gương cho các con, để các
con cũng làm như Thầy đã làm cho các con » (Ga 13,15).
Phục vụ rất khiêm nhường là một cách tốt nhất để mở cửa lòng, đón
nhận lửa tình yêu của Chúa, một thứ lửa đầy ánh sáng chân lý và
yêu thương. Nhờ đó, môn đệ Chúa có thể ra đi ngoại biên, đem Tin Mừng
cho mọi người, ưu tiên cho những người nghèo khổ.
Vui buồn về thực tế truyền giáo.
Đem mấy tư tưởng Phúc Âm trên đây chiếu dọi vào thực tế truyền
giáo tại địa phương, tôi thấy có những điều đáng mừng và có những
điểm đáng lo ngại.
Những điểm đáng mừng là từng triệu những người nghèo khổ vẫn đón
chờ Tin Mừng, và vẫn sẵn sàng đón nhận Tin Mừng. Nhiều nơi, nhiều
người đã gặp được Tin Mừng, nhờ gặp được những người môn đệ
Chúa đến với họ, thương cảm đời họ, phục vụ họ một cách khiêm
nhường, và dấn thân hy sinh vì họ. Các môn đệ như thế thuộc mọi thành
phần, trong đó các nữ tu và giáo dân giữ một vai trò quan trọng.
Những điểm đáng buồn là ở nhiều nơi còn thiếu gương sáng về truyền
giáo.
Trên đường đời, không thiếu trường hợp, người có đạo chúng ta thuộc
đủ cấp bậc, đã xử sự lạnh lùng với người ngoại biên. Thái độ của
ta cũng giống thái độ thầy tư tế và Lêvi xưa trước nạn nhân nằm quằn
quại bên vệ đường. Mặc người ngoại Samaria lo cho người ngoại
biên (Mt 12,41-44). Ta cứ an tâm đi về đền thờ là trung tâm.
Trong cuộc sống, không thiếu trường hợp, người có đạo chúng ta thuộc
đủ cấp bậc, cũng đã xua đuổi người ngoại biên, không cho họ đến gần
Chúa. Giống như các môn đệ Chúa xưa đã muốn xua đuổi người đàn bà
xứ Canaan. Khi bà cứ lẽo đẽo sát lại bên Chúa Giêsu, để xin Người chữa
con bà bị quỉ ám (Mt 15,21-28). Ta bảo vệ Chúa là trung tâm bằng cách loại
trừ ngoại biên, tức những ai ta coi là bất xứng.
Trong những công việc chung, không thiếu trường hợp người có đạo chúng
ta thuộc đủ cấp bậc, cũng đã đánh giá thấp người ngoại biên. Không
giống cách Chúa Giêsu xưa đã đánh giá rất cao người đàn bà goá nghèo,
đã dâng cúng vào đền thờ chỉ một đồng xu (Mt 12,41-44). Ta tôn vinh con
người theo tiêu chuẩn tiền bạc và địa vị, như thể tiền bạc và địa
vị là giá trị của trung tâm đạo.
Hiện nay, Mẹ thánh Têrêsa Calcutta đang được đề cao như một
gương mẫu rao giảng Tin Mừng cho người ngoại biên. Mẹ không làm việc
gì khác ngoài đi theo đường lối mà Chúa Giêsu đã đi trước. Điều đáng
ngợi khen nhất nơi Mẹ là Mẹ làm, chứ không chỉ nói. Với những việc
làm yêu thương cụ thể, Mẹ là một người mẹ âm thầm hy sinh, trước
khi là thánh vinh quang.
Khi tôn vinh Mẹ Têrêsa, Toà Thánh muốn tôn vinh một tinh thần truyền giáo
sáng ngời, một phương cách truyền giáo khôn ngoan, đã rất hữu hiệu, đã
gây được nhiều thiện cảm ở các xã hội và tôn giáo đa dạng, tại
Ấn Độ nói riêng và Á châu nói chung.
Qua đời sống của mình, Mẹ Têrêsa Calcutta đã giới thiệu dung mạo một
Hội Thánh dễ thương, dễ mến. Một Hội Thánh dịu dàng, khiêm tốn phục
vụ, đầy tình xót thương, luôn đi tìm những người nghèo khổ, tội lỗi,
bị loại trừ, sống trong bế tắc, để đưa họ vào tình Chúa bao la.
Ước gì mọi người truyền giáo chúng ta cũng theo gương Mẹ, để bất cứ
ai, nhất là các người ngoại biên, đón nhận được hy vọng là Tin Mừng
nơi Chúa là Cha giàu lòng thương xót.
+ GM Bùi Tuần