VietCatholic News (22/10/2004 )
CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN. C
XIN CHÚA BIẾN ĐỔI LÒNG CON
(Lc 18, 9-14)
Tuần này chúng ta tiếp tục đề tài cầu nguyện, nhưng nhìn từ khía cạnh khác. Tuần trước, kiên trì nài nỉ. Tuần này thái độ, trong dụ ngôn người thu thuế và người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện. Nhìn chung, câu chuyện thật buồn và mang tính cảnh giác cao, không nên tự mãn kể công, nhưng phải chân thật thú nhận tội lỗi tự đáy tâm can.
Thưa quý vị,
Người biệt phái trong Tin Mừng hôm nay dự tính bắt bí Đức Chúa Trời.
Trong lời cầu nguyện, ông ta khoe với Ngài là ông ta vượt xa người Do
thái khác về lòng đạo đức. Theo luật lệ thì chỉ buộc ăn chay trong ngày
đền tội (the Day of Atonement). Nhưng ông ăn chay một tuần hai ngày.
Cũng theo luật lệ thì người Do Thái chỉ buộc nộp thuế thập phân trên súc
vật và thực phẩm quý báu. Đằng này, ông nộp trên mọi thu nhập của gia
đình. Như thế không những ông nộp thuế để duy trì đền thờ, các hoạt động
tôn giáo mà còn góp phần vào công việc từ thiện, bác ái. Ai có thể chê
bai ông được? Cứ theo tiêu chuẩn ngày nay thì chúng ta phải xếp ông vào
bậc ân nhân trong giáo xứ, đáng nêu gương cho tín hữu khác noi theo.
Nhưng khi ra khỏi đền thờ lại bị Chúa Giêsu đánh giá không được nên
“công chính” như người thu thuế. Vì ông đã đi sai con đường Ngài muốn.
Tức con đường chân thật mà mọi người phải có trước mặt Đức Chúa Trời.
Ông đã tự lừa dối khi cầu nguyện. Ông đã nâng mình lên làm gương mẫu cho
người khác, trong khi trước mặt Giavê mọi người chỉ là tội nhân, phải
khiêm nhường ăn năn thống hối.
Câu chuyện thật đáng sợ, làm các tín hữu năng đi nhà thờ phải nổi da gà,
sởn tóc gáy, lạnh xương sống. Bởi chúng ta cũng hành động như ông Biệt
phái, cũng bỏ tiền rộng rãi vào giỏ lạc quyên, cũng đóng góp to lớn vào
quỹ xây dựng thánh đường, các công trình nhà xứ, các hội từ thiện bác
ái. Hơn nữa chúng ta cũng từng xung phong trong các công việc chung. Vậy
thì còn thiếu điều chi? Thực tế chúng ta đã được hàng xứ công nhận,
chiếm được lòng tin cậy của họ và có thể là chỗ dựa cho nhiều người. Tất
cả đều là gương mẫu. Vậy mà dụ ngôn hôm nay vẫn ám chỉ về chúng ta, vẫn
làm cho chúng ta nao nao. Cho nên cần xem lại cách sống đạo của mình,
thái độ của mình đối với người khác, nhất là các động lực thúc đẩy mình
thi hành bổn phận đạo đức. Chúng ta gia nhập đoàn hội nhằm mục tiêu nào?
Để tiến bộ thiêng liêng hay để khoe khoang, dùng người khác như bàn đạp
ngõ hầu đạt tới danh vọng, địa vị, tiền tài. Xin hãy suy nghĩ kỹ hơn về
ý nghĩa dụ ngôn, để nó soi sáng mình, nhất là tâm hồn cầu nguyện của
mình.
Trước hết, một vài lời bênh vực ông Biệt phái. Trong xã hội Do Thái lúc
ấy, các Biệt phái là những cột trụ đức tin trong đạo Môsê. Tình hình
chính trị thì rõ ràng dân chúng phải sống khốn đốn dưới sự cai trị của
người La- mã, và ảnh hưởng nặng nề của văn hoá ngoại lai, vô đạo. Nhiều
ngươi Do Thái đã thoái hoá, lơ là lề luật tôn giáo, chạy theo nếp sống
xa hoa vật chất, tương tự như một bộ phận tín hữu trong các đô thị lớn
của chúng ta ngày nay. Việc giữ đạo của họ thực chất chỉ còn cái vỏ bên
ngoài, bên trong là tiền bạc, dục vọng, tham sân si nặng nề. Trong bối
cảnh đó, đảng Biệt phái quả là can đảm, đáng khâm phục, bởi họ sống
chống lại trào lưu, tuân giữ lề luật Môisê, truyền thống của cha ông một
cách nghiêm ngặt. Như vậy đáng lẽ họ được Chúa Giêsu yêu mến, lượng giá
cao. Nhưng thực tế lại bị Chúa chê bai. Người Biệt phái trong dụ ngôn
xem ra vượt xa lòng đạo đức của người tín hữu Do thái tốt, nhưng lại làm
sai lạc ý nghĩa về Thiên Chúa và không biết trái tim Giavê nằm ở đâu.
Chúa Giêsu chỉ cho ông (và cả chúng ta) trái tim Ngài nằm ở con người
thu thuế hối cải. Rõ ràng hợp lý cách lạ lùng, không ai có thể tưởng
tượng tới được. Xin lưu ý tính khoe khoang trong lời cầu nguyện của
người Biệt phái, Phúc âm mô tả: “Ông ta đứng thẳng nguyện thầm rằng:
Lạy Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác, tham lam, bất
chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.” Ông ta đâu có cầu
nguyện, ông kể công trước mặt Đức Chúa Trời. Lời cầu của ông không hướng
về Thiên Chúa, không mở lòng ra cho Ngài, không xin ơn tha thứ tội lỗi
mà ông đã xúc phạm rất nhiều trong quá trình sống. Ông khoe mình và các
việc lành ông đã thực hiện, ông kiêu ngạo, chỉ thích nghe kể về mình,
bằng lòng với nếp sống “đạo đức” của mình, khinh dễ kẻ khác, cái nhìn
của ông ta không thoát khỏi bản thân, tức trệch hướng. Chính ra ông phải
nhìn lên Thượng đế để nhận ra lòng thương xót của Ngài trên bản thân
ông. Đây cũng là cái lỗi chung của mọi tín hữu. Chúng ta thường xuyên
không tạ ơn, ca ngợi Thiên Chúa khi cầu nguyện mà chỉ tập trung về mình,
cầu xin cho các nhu cầu của mình hay của thân nhân, trong khi chính yếu
chúng ta phải xin cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến… như Chúa Giêsu
đã dạy trong kinh Lạy Cha.
Một trong các lý do cầu nguyện là để lắng nghe tiếng Chúa nói trong linh
hồn, lay động chúng ta khỏi u mê, say đắm thế gian. Tức cầu nguyện để
thay đổi mình, làm cho mình ý thức hơn về lòng thương xót của Chúa. Đấng
đã kiên nhẫn tha thứ cho mình rất nhiều. Từ đó chúng ta rộng lòng cảm
thông và tha thứ cho người khác. Họ cũng đang vật lộn để thay đổi bản
thân. Người Pharisêu không nhận ra được giới hạn của mình, hay của nhân
loại nói chung. Ông đã không nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa bao
la, sẵn sàng tha thứ cho những ai thật lòng sám hối. Cho nên ông đã vội
vàng phán đoán sai lệch về người thu thuế. Trong khi đó người thu thuế ý
thức được mình tội lỗi, cần đến Thiên Chúa xót thương, giúp đỡ mình
thoát khỏi tình trạng khốn khó. Ông không thể tự thân thoát ra khỏi ngục
tù. Ông cầu xin Giavê tha thứ. Tâm trí ông hướng về trời cao, chứ không
về mình, tin tưởng Thiên Chúa sẽ ra tay cứu giúp. Và bởi vì cầu nguyện
thay đổi con người, cho nên hậu quả của hai người khác nhau. Người
Pharisêu ở trong tình trạng cũ, không đổi thay. Người thu thuế trở về
nhà thì được nên công chính. Ông đã ở trong tương giao hợp lý với Thiên
Chúa. Mắt ông đã được mở rộng. Trái lại, người Biệt phái vẫn còn trong u
tối của mình. Đây là bài học lớn cho mỗi tín hữu. Khi cầu nguyện chúng
ta phải thay đổi, không đổi thay kể như không cầu nguyện. Câu nói của
Chúa Giêsu chỉ rõ như vậy: “Người này khi trở xuống mà về nhà, thì
được nên công chính rồi, còn người kia thì không”. Tức là ông vẫn y
nguyên như cũ, vẫn tự lừa dối mình trong đường “thánh thiện” luật định,
không thay đổi chi cả. Các tác giả chú giải thánh kinh đều đồng ý như
vậy. Ví dụ J. Pirot viết bằng tiếng Pháp: “C’est-à-dire dans l’illusion
de sa propre justice” (nghĩa là trong ảo tưởng về sự công chính riêng
của mình) chứ không phải là sự công chính Đức Chúa Trời mặc cho nhờ
bửu huyết của Chúa Giêsu. Nói cách khác, chưa được Chúa thương xót tha
tội. Cho nên việc cải hoá khi nguyện cầu là tối quan trọng cho người tín
hữu, bất kỳ là ai, giáo dân hay các đấng, các bậc tu sĩ, linh mục.
Thường thường, sau khi chữa lành một ai, Chúa Giêsu tuyên bố: “Lòng
tin của ngươi đã chữa ngươi.” Như vậy đức tin là căn bản cho người
ta nhận được ơn lành. Nó cho phép chúng ta tin cậy vào sự bảo đảm của
Chúa Giêsu rằng Thiên Chúa về phe với mình. Ngài muốn cho chúng ta được
lành mạnh. Tuy nhiên trong câu chuyện hôm nay, người thu thuế được Chúa
thương tha thứ. Cuộc đời ông thay đổi lớn lao trong tâm hồn, nhưng chẳng
có dấu chỉ nào bên ngoài. Khi hai người bước ra khỏi đền thờ, dáng điệu
họ hoàn toàn giống như lúc họ tới. Thiên hạ vẫn trông thấy họ như ngươi
bình thường. Ông Biệt phái vẫn đạo mạo, được dân chúng kính nể, ông về
nhà ăn chay hai ngày một tuần, thứ hai và thứ sáu, nộp thuế thập phân
rộng rãi trên nguồn lợi gia đình, giữ nghiêm ngặt các luật lệ tôn giáo.
Còn người thu thuế, có lẽ cũng vẫn như trước. Nhưng chúng ta có thể dự
đoán ông đã thay đổi nếp sống, tin tưởng rằng mình đã được Thiên Chúa
thứ tha. Hạnh kiểm của ông khá hơn, đối xử với vợ con, tha nhân hiền hậu
hơn theo tiêu chuẩn của lòng Chúa xót thương mà ông đã nhận được. Phúc
âm không kể ra điều này, tất cả những chi chúng ta biết được là bề ngoài
ông không thay đổi, vẫn bị đồng bào khinh bỉ như kẻ thu thuế tội lỗi.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã tuyên bố ông được công chính hoá, làm bạn hữu
với Thiên Chúa, ở trong tương giao tốt lành với Ngài.
Căn cứ vào lời cầu nguyện của hai người, chúng ta nhận ra được sự khác
biệt, nêu rõ tâm trạng của từng nhân vật trước tôn nhan Thiên Chúa.
Người Biệt phái nói: “Tôi xin tạ ơn Chúa, tôi không như bao kẻ khác,
tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, tôi dâng cho Chúa một phần mười thu nhập
của tôi”. Tất cả 5 chữ tôi, một sự khoe khoang không thể tưởng
tượng, ông làm chủ lời cầu nguyện của mình. Còn người thu thuế khiêm
nhường hơn, lời cầu xin của ông rất ngắn, chỉ vỏn vẹn như sau: “Lạy
Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Ông không làm chủ mà
chỉ là kẻ thụ ơn lòng xót thương của Thiên Chúa. Ông mở rộng lòng ra để
đón nhận tình yêu Thiên Chúa vào lòng. Hai tâm trạng trái ngược nhau.
Người Biệt phái bộc lộ mình là người tự cao, tự đại, điều khiển cuộc
sống theo ý mình, là chủ trong tương giao với Thiên Chúa, không có chỗ
cho Ngài hành động trong sinh hoạt của mình. Chúa Giêsu không ưa thái độ
này, Ngài năng nêu tên họ như kẻ giả hình. Tôi đếm trong Phúc âm tất cả
15 lần: “Khốn cho các ngươi, hỡi những người Pharisêu và ký lục, các
ngươi giả hình,…. (Lc 11,42). Trong cuộc sống riêng tư, có lẽ chúng
ta vẫn thường mắc phải não trạng biệt phái, vụ hình thức, ích kỉ và tham
lam. Bởi lẽ chất liệu để làm nên biệt phái vẫn còn đầy ắp trong Giáo
Hội. Phải khó khăn lắm mới có thể lương thiện với ơn gọi của mình. Chúng
ta cần Lời Chúa để gọt giũa tâm hồn. Vì Lời Ngài giải phóng ta khỏi lầm
lạc, tự kiêu, ảo tưởng. Thực sự, đây là lúc chúng ta phải tỏ ra thành
thật với chính mình và nhận ra ý định của Thiên Chúa muốn tưới gội ơn
lành cho chúng ta, nhờ sự dẫn dắt của dụ ngôn hôm nay. Chúng ta luôn
thất bại về luân lý trước mặt Thiên Chúa, không sống đúng với chương
trình Ngài dự định cho mình! Vậy không thể nhận vị trí của người Biệt
phái được: “Tôi không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại
tình hoặc như tên thu thuế kia”. Câu thành ngữ thêm vào: “Phàm ai
tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.
Thánh Luca đã nhắc đến một trường hợp khác, tức dụ ngôn các khách mời dự
tiệc cưới (14,15). Thánh Matthêu viết khác đi một chút: “Những kẻ đứng
trước tiên sẽ phải xuống hạng chót và kẻ hạng chót sẽ được lên hàng
đầu.” Thiên Chúa thấu suốt mọi tâm can, sẽ lượng giá chúng ta theo tiêu
chuẩn của Ngài, chứ không phải của thế gian. Ngài thấu rõ mọi hành động
của chúng ta là do tư tưởng thực sự nào, chứ không phải dáng vẻ bên
ngoài.
Do đó, xin thành thực với chính mình trước Thánh thể trong thánh lễ hôm
nay. Chẳng một ai trong chúng ta là hoàn hảo trước mặt Thiên Chúa. Thánh
thể không phải là chỗ để chúng ta lừa dối mình, sống trong ảo tưởng, vụ
lợi mà là nơi để bày tỏ tấm lòng thành thật, lương thiện. Chúng ta đến
trước mặt Chúa là để xin ơn tha thứ tội lỗi, ca tụng lòng thương xót của
Ngài. Ngài ban lương thực để trợ giúp chúng ta thay đổi cuộc sống cho am
hợp với đường lối Phúc âm hơn. Mặc dù bề ngoài không có chi đổi thay.
Nhưng lương tâm được Ngài thanh luyện, dẫn dắt, trên con đường thánh
thiện thực sự. Nhờ đó các hành vi bên ngoài có sự tiến bộ. Chúng ta sẽ
trở nên lương thiện, ngay chính, bác ái, công bằng hơn. Bớt đi nhưng
thói giả hình, lường gạt, quanh co, những tính hư nết xấu; rượu chè say
sưa, ươn lười, hưởng thụ, ghen tương,… Nguyên do là bởi lúc này Thiên
Chúa là chủ thể các lời cầu nguyện của chúng ta, chứ không phải đứng
nghe chúng ta khoe khoang thành tích. Chúng ta sẽ là kẻ thụ hưởng ơn
lành biến đổi, giống như người thu thuế trở về nhà được nên công chính.
Có lẽ đó là ước nguyện của mọi tín hữu ngày nay vậy. Amen.
Lm. Jude Siciliano, OP.