|
Tôi Về thăm Kẻ Sặt Bắc Việt |
Kim Nam 
Kẻ Sặt ngoài Bắc thì tôi chưa hề được đặt chân đến. Khi còn nhỏ tuổi tôi có đọc Visơn trong "Nghĩ về quê hương tráng liệt bình". Visơn có nhiều kỷ niệm ở quê cũ làng Kẻ Sặt, nhưng thế thời, bố mẹ đã dắt dìu bỏ quê cũ ra đi vào miền Nam Việt. Tôi trở về thăm quê cũ nhưng chẳng biết gì về làng Kẻ Sặt Tráng liệt Bình.
Sau lễ Truyền Dầu ở Nhà Thờ Lớn, Phố Nhà Chung tại Hà Nội. Tôi, và phái đoàn đi bộ ra Phố Hàng Thùng để lấy xe đò ra Hải Phòng. Ðợi xe. Chúng tôi ngồi "sổm" ăn phở tại một góc đường. Hai cô bán hàng mặc mốt "Tân thời" lắm. Ngồi nói chuyện, hai cô mới than thở cũng từ ngoại quốc về. Một cô ở Ðông Ðức, còn một cô ở Nga. Cô ở Ðông Ðức thì ở lại được, sau bức tường ngăn cách Ðông Tây Bá linh bị đập. Nhưng vì ở bên nhà chồng gọi về. Hôm nay lần đầu thực sự tôi được ăn phở Bắc chính cống. Nhưng lại thiếu chanh. Cô bán hàng cho hay chanh đang ở trong mùa đắt. Một tô phở 6 ngàn mà một trái chanh 4 ngàn. Thành thử họ dùng quất thay thế chanh.
Ðường từ Hà Nội ra Hải Phòng đang được mở rộng, quang cảnh chung quanh không còn nhận ra dấu tích của chiến tranh nữa. Những nhà cao, những khu kỹ nghệ của ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam đã chiếm hết những khoảng đất trống mà xưa kia là những "cánh đồng lúa, thẳng cánh cò bay".
Ðến ngã ba Quán Gỏi thì xe ngừng để chúng tôi xuống. Ðược gọi tên là vì tại ngã ba này có một cái quán bán hàng, trên cửa tiệm có bảng chữ Quán Gỏi. Tranh thủ thời gian về Kẻ Sặt tôi không có giờ để lai vãng Quán Gỏi. Vì bây giờ đã qúa trưa, trời lại nóng. Nắng mặt trời gay gắt chiếu thẳng làm tôi nhễ nhại mồ hôi. Những xe hai bánh làm "xe ôm" quấn quít săn đón mời chào khách. Bố tôi cho biết là khoảng hai cây số từ đó về Sặt, tôi đề nghị đi bộ; nghĩ lại thấy tội nghiệp tấm thân già 67 tuổi của bố tôi phải đi bộ. Nhưng tôi thấy gió thổi, và mùi thơm của lúa non trong "Hoa đồng cỏ nội" làm tôi qúi mến vùng đất mà tôi đang đến. Ði được khoảng 500 mét thì tôi thấy có cột Cây Số ở bên đường có chữ "Sặt 2 km" Ði qúa một tí nữa thì đến cầu về Sặt, cầu đã được làm lại sau chiến tranh đổ gẫy vì bom. Bên này cầu thì có những lò nung đá làm vôi. Bố tôi chỉ cho biết nhà ông bà Thái Quảng.
Những câu chuyện lịch sử
không mấy khi được nói cho biết; hôm nay chỗ này, bố tôi như quên mệt
của đi bộ và đầy hơi để cắt nghĩa cho chúng tôi "Hậu sinh khả
úy" để am tường "Ôn cổ tri tân". Tôi thiết nghĩ thời gian
đã lâu nhưng lòng khó nguôi, bỏ giở công trình và tài sản của tổ
tiên là đi lùi. Rời bỏ quê hương là một can đảm. 
Qua khỏi cầu thì đã nhìn
thấy phố xá của khu ngoài Sặt. Ðến nghĩa địa Sặt. Từ cổng bên kia
đường tôi nhìn thấy khán đài nghĩa địa Sặt. Bây giờ tôi mới hiểu
bức tranh khán đài Kẻ Sặt mà ông tôi vẫn hàng treo ở nhà, trong Nam Việt.
Nghĩa địa này là do ông Chu Văn Nghiệp công đức xây, để bốc mộ rải
rác ở nhiều nơi đem về đây chôn. Nhưng mới xây xong chưa được bao lâu
thì di cư; ngay cả đến mộ của cụ Chu Văn Trinh, của chị Chu Thị Nguyễn
mới đem về vùi xuống chưa kịp làm mộ bia, đến nay cũng không còn nhận
ra mộ chỗ nào nữa. Bố tôi chỉ còn nhớ là gần phía tay mặt của khán
đài nhìn từ cổng vào. Nghĩa địa này bây giờ đã phải cắt một phần
đất để cho dân ngoại làng chôn. Ðến ngã ba làng thì rẽ phải để vào
làng qua nhà thờ Kẻ Sặt. Còn rẽ trái để cho xe đi vòng ngoài không qua
nhà thờ làng. 
Ðến đầu làng, những cửa tiệm trên phố như tiệm hàn sắt, tiệm bán máy bơm, tiệm sửa xe đạp v.v. có một cửa tiệm ba tầng lầu trên lầu thượng có hàng chữ France England tôi lấy làm lạ và hỏi ra thì là nhà của ông Thủ Nghiệp ngày xưa. Ðường làng đã được làm lại đã trải đá chờ đổ nhựa, vì khu Sặt đã được nâng lên cấp Huyện.
Dừng chân nghỉ tại nhà chú Vinh con bà cô Mỵ và ăn bữa trưa. Sau đó được đưa đi thăm đền Thánh An Tôn. Bên cạnh đền Thánh có nhà hội mới xây rất đẹp, bên trong gắn máy quạt bàn treo ở tường, cửa kính mầu dịu. Hội trường dùng để dạy giáo lý và tập nhạc của ban nhạc giáo xứ; và tượng đài Thánh An Tôn ở giữa một cái hồ.
Ði khỏi đền là đến chợ Sặt. Chợ chỉ còn lại những hàng bán đồ không ươn héo. Chợ rau, thịt, cá thì đã tan từ lâu.
Ra "trên bến dưới thuyền", nhìn qua sông thì có đền Thánh Phêrô, khóm dân chài, nửa ở trên bến, nửa ở dưới thuyền. Muốn qua đền Thánh Phêrô thì phải kêu đò đưa qua.
Rời chợ, chúng tôi đi thăm nhà cũ. Nhưng không được vào nhà vì nhà đã có chủ mới. Phía sau thì con của bà cô Mỵ, gia đình Chú Nội còn có một khoảng nhỏ của nhà bếp để ở.
Ðến thăm nhà cô Chín con bà cô Mỵ bán hàng ngũ cốc cám và phân con cò. Trở về làng bằng đường tắt, qua chợ trâu, nhưng nay không còn chợ trâu nữa. Ðồng lúa nước đã được cầy cấy. Vài lũy tre xanh còn đây, còn ngoài ra là "ruộng thẳng cánh cò bay". Về đến Ðiếm khu thượng, có giếng làng vẫn được gọi là "Mắt rồng" nên không dám lấp đi sợ dân làng sẽ bị "mù chữ" mặc dù nay không dùng để lấy nước nữa. Miệng giếng lớn lắm theo tầm mắt nhìn cũng khoảng 5 mét đường kính. Chỗ này thì đã thấy được phía sau của nhà thờ Sặt.
Ðến trường học của làng, ao đối diện trường đã làm lối vào nhà, ngăn ao ra làm hai. tiếp tục đi thì đến một cái giếng làng "Mắt rồng" nữa. Chúng tôi vào thăm nhà cô Hải con bà cô Mỵ có tiệm bán hàng tạp hóa, và làm đại lý xe hàng Hải Phòng vào Sài gòn.
Tôi nghe nhà thờ đang ngắm đứng mùa chay. Ði ngang nhà thờ khá dài từ phía hông của khu thượng ra đến cổng nhà thờ thì có Ðiếm của khu trung. Tiến về khu hạ đi thăm bà con, và đến thăm vài nhà nữa thì trời đã tối. Trở về nhà cô Hải ăn cơm xong thì chúng tôi đi dự lễ rửa chân. Cô Hải đưa cho tôi bê một vài cái ghế đi nhà thờ. Tôi hỏi lại thì được biết là nhà thờ đông người, không đủ ghế, mang ghế đi mà ngồi không thì phải đứng mỏi chân lắm.
Nhà thờ rộng, kiến trúc theo kiểu Gothic 2. Những cột sắt đúc trong nhà thờ, được biết là sườn của một cái chợ cũ ở Pháp. Ðến năm 1927, cha bề trên phụ tỉnh Aparicio X tái thiết đơn giản nhưng rộng lớn dài 84m, rộng 24m, cao 25m tháp giữa cao 75m (nhưng nay không còn đồng hồ bốn mặt), hai tháp chuông rời ngoài nhà thờ cao 50m (nhưng không còn 5 chuông) còn lại chuông tôi nghe tiếng rất trầm và có vẻ như tiếng của chuông đã bị nứt. Nhà thờ khánh thành 3 & 4 tháng 8 năm 1932. Thuở này thì bố tôi mới thôi giai đoạn bò lê, đi đứng được nhưng chưa biết chạy.
Kiến trúc nhà thờ có vẻ
cọc cạch. Tôi nghĩ là hai tháp chuông ngoài nhà thờ không được dự định
xây như thế. Tôi nghĩ là xây xong hai tháp thì bị gián đoạn. Ðến khi
xây trở lại thì để hai tháp đó, còn nhà thờ thì xây lùi vào trong.
Phía sau nhà thờ, nhà của các cha hay buồng áo gì đó đã phá đi và xây
nhà khác ở khu đất sau khuôn viên nhà thờ. gần bờ ao. Nhà thờ có nơi
đi vệ sinh thật là hiếm có. 
Khi nhà thờ được sửa sang gần đây (1997) người ta thấy một xác ở nóc trần nhà thờ. Lưu truyền cho hay là lính Pháp lên lục soát và đã quẳng xác vào nóc trần nhà thờ từ bấy giờ. Vì số tử thương không ai kiểm điểm nên cũng chẳng rõ là ai. (1)
Nhà thờ mới được sửa chữa lại, lợp mái mới và quét vôi lại toàn thể cả hai tháp ngoài nhà thờ. Có lẽ vì tốn phí nên quét vôi một mầu vàng không tô điểm mầu cho những nét đường cong của nghệ thuật Gothic.
Lễ xong thì đã khuya, rước Mình Thánh vào nhà tạm ở đoàn quán bên hông trái nhà thờ, có một số người Sặt miền Nam cũng ra đây đi dự lễ và đang ở trong đoàn kiệu. Các hội đoàn Phùng trống, hội con Ðức Mẹ, Ca đoàn v.v. Một số ở lại, hội đoàn ngắm Mình Thánh qua đêm thay phiên nhau.
Ðã mệt cho một ngày dậy sớm và đi bộ nhiều nên chúng tôi về ngủ tại nhà cô Hải. Nhưng lạ nhà, 2 giờ sáng thì tôi đã thức giấc. Sợ phiền chủ nhà nên nằm ráng cho đến 5 giờ sáng thì giậy để đi chầu Mình Thánh.
Chầu xong thì gần 6 giờ sáng. Ði vòng quanh về khu thượng, qua trường học, điếm khu thượng rẽ tay phải qua giếng làng khu thượng. Có nhà mở nhạc vàng. Dưới xóm có tiếng bàn tán về vụ trộm cắp. Quẹo phải con đường đi về nhà cũ của ông bà Bá Kiệm. Nhìn qua cổng đóng không có ai trong sân. Chẳng biết gọi ai. Tôi có lần được chú San kể là còn người chị ở ngoài Bắc. Mấy bố con tôi đứng ngoài cổng chụp hình rồi đi.
Trở về qua nhà thờ, đi về khu hạ, qua nhà cinê của ông lý Nhượng, tới nhà của bố tôi. Ðược biết căn nhà đúc bê tông đầu tiên trong làng bấy giờ. Nhưng vừa xây xong chưa được ở thì đã di cư vào Nam Việt. Chủ nhà cho phép vào thăm.
Chủ nhà không phải người làng. Họ ở đâu đến thấy nhà trống là chiếm ở. Mặc dù chính phủ đã ra chỉ thị xin lại nhà, nhưng cũng chỉ là giả dạng để kiếm thêm tiền của những người ra đi; cũng như ở Sàigòn kêu gọi những người ra ngoại quốc về lấy sở hữu chủ, để họ có dịp lấy Ðô la, tham nhũng hối lộ. Có những nơi đã đổi tên đường, họ bảo giấy tờ không hợp lệ v.v. để lấy thêm mớ Ðôla nữa.
Những người sống chung quanh nhận ra bố tôi về đứng trước cửa nhà chờ đón mời vào nhà chơi. Có những người đi qua cũng đứng lại chào thăm niềm nở. Họ bảo cho gửi lời hỏi thăm các cô Bati, Basi và bảo là gặp cô tên (?) nhưng rồi nhiều qúa chúng tôi về không còn nhớ.
Ði qua điếm của khu hạ, ao đối diện, đã lấp đầy đất và làm nhà. Rồi qua nhà của ông Cậu Phạm văn Vinh. Từ con đường này ra đến ngoài làng là phố Sặt có những cửa hiệu may áo dài, áo cưới đầm thời trang không kém gì y phục thời trang may cắt của Phạm thị túy Phượng tại Bắc Hải trong Nam Việt.
Lấy hành lý từ nhà chú Vinh con cô Mỵ. Chúng tôi ngồi xe ôm để đi ra ngoài Quán Gỏi lấy xe đò đi Hải Phòng. Cũng vậy đường đang mở rộng, bụi bậm và những hố sình lầy. Trên xe mở nhạc "pop" của ngoại quốc tôi cứ ngỡ như đang ngồi ở Paris vào buổi sáng của những người không có việc làm, ngồi quán uống càfe đọc sách triết học.
Trời nóng nên tôi mơ tưởng
mùa Ðông Paris trong bài hát:
"Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế, trời mùa
đông Paris, suốt đời làm chia ly".
Qua Hải Dương nhưng không nhìn thấy đền Hải Dương, nơi mà tôi thường nghe mẹ tôi kể: "là dân làng thường đi bộ từ Kẻ Sặt lên đó để đi lễ đền thờ hàng năm" Ðến Hải Phòng qua sông Ðào ở giữa hai bên đường, những khu phố buôn bán san sát nhau không kém gì ở Hà Nội, nhưng trật tự và đường phố nhà làm đẹp hơn. Qua nhiều khu phố tôi ngỡ như tôi đang đi ở Sàigon những năm trước 75. Ðến nhà thờ chính tòa Hải Phòng. Chúng tôi vào trong khuôn viên nhà thờ và ngồi ăn bánh chay vì hôm ấy thứ sáu tuần Thánh ăn chay. Ở đây có những nhà của các cha ở. Bố tôi chỉ căn gác cửa sổ đó phòng của Cha Chu Công khi còn ở Hải Phòng. Và cha Ðiện nhà thờ Ðại lộ trong Nam cũng ở đây.
Ăn song chúng
tôi đi chầu. Giờ chầu những bài đền tạ Thánh Tâm mà tôi còn nhớ:
"Lạy Trái Tim Chúa Giêsu, là Vua
cai trị muôn đời
Xin Trái Tim Chúa là Vua, cai trị lòng
con suốt đời."
Chầu xong thì chúng tôi rời nhà thờ, tiếp tục xuống phố, đi đến nhà ông Chân con ông Giáo Hiện...
Chúng tôi lại trở về Sặt
chiều thứ bẩy. Chúng tôi ngồi xe ôm từ Quán Gỏi về đến cổng Nghĩa
địa Sặt thì dừng để vào thăm nghĩa địa Sặt. Nghe nói cổng nghĩa địa
mới được làm gần đây. Còn bên trong thì đã có nhiều mộ. Ngôi mộ người
nhà của cậu Phạm văn Vinh mà cậu mới về xây thì lại ở bên phần đất
của dân ngoại. Nên bố con chúng tôi nhìn mãi không kiếm thấy.
Rời nghĩa địa, đi bộ về làng Sặt. Ðến nhà mẫu giáo, xưa kia là nhà
của ông tôi có những tường hoa trên mái nhà mà bố tôi kêu là những
bánh xe lửa vì nó hình tròn. Ngó vào bên trong những "cung nguyệt
hình" vẫn còn như ngày xưa. Tôi nghĩ như đang ở phần đất bên Do
Thái với những "lỗ Kim" hình già bán nguyệt to như cái nong ở
trong Nam Việt dùng để phơi cau. Hai bên nhà mẫu giáo là hiên nhà ngày xưa,
bên trái thì người ngoại đến ở. Bên phải thì con bà cô Mỵ mua lại
để hai vợ chồng và đứa con mới sanh ở. Chặt chội lắm nhưng đất Bắc
bây giờ không nở, mà người thì nở nhiều sau chiến tranh. Khu đất chỉ
vừa kê một cái bàn ở cửa vào, rồi kế là cái giường, hết giường dùng
làm nơi nấu nướng. Không có cửa hậu. Nhà tắm, nhà tiêu cũng không có.
Mẹ tôi nói chỗ này chỉ là lối cổng ở bên hông nhà
để vào phía sau mà thôi.
Cơm tối xong tại nhà cô Hải, chúng tôi đi dự lễ vọng Phục Sinh. Lễ đông người, cả những dân ngoại ở xung quanh đến dự lễ.
Sáng hôm sau thì có rước kiệu Chúa Giêsu Phục sinh. Những máy quay Video để quay những dịp lễ hoạt động ráo riết ngoài sân cũng như trong nhà thờ. Không còn chỗ ngồi vì mải đứng ngoài xem kiệu. Ðến khi kiệu vào thì nhà thờ đã đầy người. Bao nhiêu người đứng ngoài nhà thờ. Và bao nhiêu xe đạp của những người ở xa nhà thờ đi tới dự lễ để ngoài nhà thờ.
Lễ xong, gia đình hội họp chụp hình kỷ niệm, dặn dò chào cáo biệt để chúng tôi trở về miền Nam bằng xe đò chở hàng khoảng 11 giờ sáng Chúa Nhật.
Cảm nghĩ của tôi về Sặt Tráng liệt Bình thật đẹp vì:
Lịch sử dân làng đã có hơn bốn thế kỷ.
Lịch sử giáo hội đã ghi nhận vị Giám mục đầu tiên của Việt Nam được phong tại nhà thờ Kẻ Sặt đó là Ðức Cha Lezoli (Có bản gần đây viết là Lezoni ?) Cao dòng Ðaminh ngày 02-2-1702.
Và có nhiều vị Tử Ðạo. 26 vị đã được đệ trình xin phong chân phước.
Dân tình qúi khách, hiền hòa, phụ nữ đảm đang tháo vát, trong thời chiến "Giặc đến nhà đàn bà phải đánh" đã làm phụ nữ Kẻ Sặt giạn dĩ hơn; giám ăn nói hơn. Tuy nhiên vẫn đảm đang trong khổ cực với gia đình con cái. Phần đạo nghĩa trong gia dình vẫn đầy đủ. Trong số 117 Thánh Tử Ðạo của Việt Nam có duy nhất một nữ Thánh đó là Lê Thị Thành (2) tiêu biểu cho những người mẹ mẫu mực của làng Sặt.
Cách nào thì mỗi người đều có một người mẹ, mẹ cưu mang trong lòng, mẹ ấp ủ, mẹ ru, bú mớm nâng niu, và cũng có người mẹ để đánh đòn.
Những hình ảnh của mẹ, khó có ai quên được trong đời mình. Tôi chợt nghĩ đến câu chuyện của một ông thầy giảng trong nhà thờ. Ông vào đề: "Ðã bao năm tôi nằm với một người đàn bà" cả nhà thờ dường như chợt tỉnh giấc buồn ngủ. Ông thầy giảng cứ ấp úng mãi: "Cách nào, đi tu nhưng không thể nào làm tôi quên được hình ảnh của người đàn bà ấy." Có một bà khó tính quát tháo: "Ngủ với ai thì khai ra đi". Thế rồi cả nhà thờ nóng tánh nhôn nhao lên muốn bỏ ra về thì thầy giảng phải trấn an: "Người đó là Mẹ của tôi".
Tôi mượn thơ của bài Cảm Xúc xoa dịu thân phận phụ nữ việt Nam:
"Hỡi
cô con gái Việt Nam ơi,
Hai chữ hy sinh có ở đời.
Tôi xin nạm vàng muôn khổ cực,
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi."
Ðường về dự định vào thăm Ðức Mẹ La Vang nhưng đi qua thì vào ban đêm nên không thể vào được. Tôi nhớ đến lời Ðức Giáo Hoàng gặp gỡ Việt Nam Tại Denver Hoa Kỳ"
"Ước gì họ được
lớn lên với niềm hãnh diện về nguồn gốc Việt Nam của mình, về nền
văn hóa phong phú của mình, về sự cao cả tinh thần của tiền nhân họ
đã từng đương đầu với đử mọi thử thách."
Ðến Sặt miền Nam trưa thứ
ba. Cuộc hành trình mất 48 giờ.
(1) Xem thêm Tin Bổ túc
(2) Xem thêm về Thánh Nữ Lê Thi Thành
Lễ Phục Sinh 1998
Chuẩn bị để cho lên Internet
ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống. 23-5-1999
Kim Nam