VietCatholic News (27/04/2003 )
Mỗi người đều có những giấc
mơ cho đời của mình. Tại sao ta muốn đời ta sẽ như thế này mà không
phải như thế kia ? Tại sao ta chỉ có thể yêu con người này mà không phải
bao nhiêu người khác mà ta gặp, dù người ta yêu chắc gì đã hơn được
những người khác ? Tại sao một giấc mơ lại đến với ta ? Tại sao những
giấc mơ của ta không bao giờ dừng lại ? Không ai có thể lý giải cho những
giấc mơ của mình ?
30 năm trước, Nguyễn Viết Chung đã có một giấc mơ. Lúc đó anh mới 18
tuổi, cái tuổi ta vẫn thường hay có những giấc mơ lãng mạn. Một ngày
vào năm 1973, các tờ báo ở Sài-gòn đồng loạt đưa tin về cái chết của
Jean Cassaigne, một Giám Mục Công Giáo, người Pháp, nguyên làm Giám Mục
Sài-gòn nhưng lại qua đời tại một trại phong ở Di Linh, một nơi đèo
heo hút gió trên đường từ Sài-gòn đi Đà Lạt.
Chung đọc tiểu sử của vị Cố Giám Mục trên báo và không hiểu do đâu
anh lại mong muốn được nên giống ngài ở chỗ phục vụ người cùng khổ
cho đến hơi thở cuối cùng. Thật kỳ lạ vì gia đình và bản thân anh đều
là những Phật Tử ngoan đạo. Anh chẳng biết gì về đạo Công Giáo và
chưa hề tiếp xúc với những người Công Giáo bao giờ, thế mà Đức Cha
Cassaigne lại trở thành thần tượng của anh. Mọi người đều muốn được
sống an nhàn hạnh phúc nhưng Chung lại muốn sống hiến thân cho người
nghèo khổ và được chết như thần tượng của anh.
Năm 1974, Chung theo học tại Y Khoa Đại Học Đường Sàigòn. Tại đây anh
gặp một người Công Giáo đầu tiên trong đời anh: Giáo sư bác sĩ
Lischenberger, người Bỉ, dạy môn Mô Phôi Học ( Histology ). Chắc chắn có
rất nhiều người khác đã từng theo học ông không bao giờ quên được
ông. Chung ngưỡng mộ sự uyên bác khoa học vô song của ông. Ông chỉ giảng
dạy bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Các bài giảng vô cùng sinh động và
phong phú của một nhà khoa học uyên thâm một cách lạ kỳ làm Chung mê mẩn.
Nhưng anh còn mê mẩn về một sức hút lạ lùng khác nơi giáo sư
Lischenberber. Chung kinh ngạc khám phá ra vị giáo sư khả kính này còn là một
Linh Mục Dòng Tên. Anh thường cùng các bạn trường Y đến Nhà Thờ Jeanne
D’Arc để “xem” giáo sư Lischenberber dâng lễ chỉ vì thích đi
theo ông thầy đáng kính. Ở trong nhà thờ, Chung lọng ca lọng cọng, đứng
ngồi nhấp nhỏm vì anh không quen các nghi thức trong thánh đường Công
Giáo.
Trên bàn thờ, giáo sư Lischenberger trở thành một con người khác hẳn. Con
người khoa học uyên bác đã trở thành một Linh mục thành kính, thanh
thoát, sốt sắng dâng Thánh lễ. Vẻ trang nghiêm, siêu thoát, chìm đắm
trong một cõi phúc lạc thần thiêng đã làm Chung mê say con người Linh mục
thánh thiện này hơn cả con người Giáo sư uyên thâm.
Có lần giáo sư Lischenberber yêu cầu các sinh viên Y Khoa ghi nguyện vọng của
họ trên một tờ giấy và nộp cho ông. Các bạn của Chung được dịp tỏ
lộ những giấc mơ của họ. Có người muốn theo đuổi sự nghiệp khoa học
ở một trường đại học Âu Mỹ danh tiếng nào đó. Có người muốn công
thành danh toại, trở thành một chuyên gia đầu ngành nổi tiếng.
Chung ngồi thừ ra cả giờ, không viết được ra điều gì, đành nộp tờ
giấy trắng. Có một bạn thắc mắc hỏi lý do Chung để trống tờ giấy.
Chung trả lời là vì Chung quá mắc cỡ nếu để cho người thầy đáng
kính biết được giấc mơ của mình: Chung muốn trở nên giống như giáo sư
Lischenberger về sự uyên bác khoa học đồng thời giống như Linh mục
Lischenberger về sự thánh thiện thanh thoát.
Những năm theo học Y Khoa không phải là dễ dàng gì đối với Chung, anh
thường phải làm thêm nhiều việc nặng nhọc kể cả đạp xích-lô để
kiếm tiền ăn học và phụ giúp gia đình. Sau khi tốt nghiệp trường Y
năm 1980, chuyên khoa Ký Sinh Trùng, bác sĩ Chung làm việc tại Sài-gòn trong
5 năm coi như là để báo hiếu cho cha mẹ đã dày công nuôi dưỡng anh nên
người nhưng giấc mơ không bao giờ phai nhòa trong sâu thẳm lòng anh.
Năm 1984, bác sĩ Chung, khi đó 29 tuổi, xin được bổ nhiệm lên Trại Phong
Di Linh để thực hiện giấc mơ lớn nhất của đời anh. Nhưng theo đúng
thủ tục hành chánh thì trước đó anh phải trình diện và chịu sự điều
động của Sở Y Tế tỉnh Lâm Đồng. Tại đây người ta nói với anh rằng
ở trại phong thì có gì hấp dẫn đâu, anh có thể về những nơi khác mà
đường công danh sẽ rộng mở thênh thang cho một bác sĩ trẻ tài hoa như
anh.
Chung không đồng ý, anh về làm việc tại Trạm Phòng Chống Sốt Rét của
tỉnh Đồng Nai cho đến năm 1989. Rồi đổi về làm tại phòng xét nghiệm
của Bệnh Viện Da Liễu Sài-gòn trong các năm 1990 - 1992. Tại đây anh xin học
thêm chuyên khoa da liễu vì không bao giờ anh quên được mộng ước của mình.
Năm 1993, bác sĩ Chung tình nguyện lên công tác tại Trại Phong Bến Sắn,
Bình Dương. Tại đây như thể đã đạt được tâm nguyện lớn lao nhất
của mình là được giống như Đức Giám mục Cassaigne trong việc phục vụ
bệnh nhân phong, anh làm việc hăng say. Chưa từng có một bác sĩ nào tận
người bệnh tận tụy hết lòng như anh. Không có việc nào mà anh nề hà.
Anh có thể đổ bô cho bệnh nhân, một việc chỉ có các y công mới phải
làm. Nhưng dù như thế, anh vẫn thấy mình thua xa các Nữ tu Nữ tử Bác
ái trong việc yêu thương phục vụ người bệnh. Có nhiều bệnh nhân quá
đau khổ vì bệnh hoạn nên đâm ra trái tính trái nết. Chung không chịu
được nên anh thường gắt gỏng với người bệnh. Các Nữ Tu không bao giờ
như thế. Họ luôn nhẫn nại lắng nghe và phục vụ người bệnh hết lòng,
không bao giờ làm điều gì khiến họ buồn tủi.
Tinh thần hy sinh quảng đại đó khiến Chung cảm phục. Anh cho rằng muốn
có được tinh thần yêu thương người nghèo khổ như thế anh phải trở
thành một trở thành giống như các Nữ tu. Anh xin với các Soeurs cho anh
được giống như các Soeurs. Các Soeurs nói rằng đây là một cộng đoàn Nữ
tu, hơn nữa anh chưa phải là người Công giáo. Nếu trở thành một người
Công giáo mà được nên tốt lành như thế thì qủa là một điều đáng
ao ước.
Ngày 28.8.1993, bác sĩ Chung, 38 tuổi, đến gặp cha Hoàng Văn Đạt, Dòng
Tên, để xin theo đạo Công giáo. Khi tiễn anh ra cửa, cha Đạt cho anh biết
ngày hôm đó kính Thánh Âucơtinh, Giám mục, Tiến sĩ Hội thánh. Đặc biệt,
Thánh Augustino cũng là một người quay trở lại với Chúa. Vì thế Chung chọn
cho mình tên Thánh là Augustino. Từ nay anh có đến hai Đức Giám Mục ở
trên Nước Trời phù trì cho anh.
Ngày 15.3.1994, lễ Thánh Louise de Marillac, đấng cùng với Thánh Vinh-sơn
Phao-lô lập Tu Hội Nữ Tử Bác Ái, tại Nhà Nguyện Trại Phong Bến Sắn,
bác sĩ Chung được cha Vinh-sơn Nguyễn Thế Thuận, Cha Sở Bến Sắn, làm Lễ
Rửa Tội cho anh. Bõ đỡ đầu của anh là bác sĩ Quang, cũng đang công tác
tại Bến Sắn lúc đó.
Nhưng bao lâu mà chưa được trở nên giống các Soeurs để có thể yêu thương
phục vụ người nghèo hết tình, thì Chung chưa mãn nguyện. Chung đã 39 tuổi,
theo đuổi ơn gọi Tu Sĩ ở tuổi tứ tuần là một điều khó khăn vô
cùng ngay cả đối với người Công giáo đạo gốc, còn con đường sự
nghiệp của một bác sĩ nữa, đâu phải dễ dàng mà có được trong ngày
một ngày hai, tự dưng mà bỏ hết đi sao đành ?
Chung vẫn không chùn bước. Anh nhất định lên đường. Nhưng gia nhập một
Dòng Tu không phải là một việc dễ dàng. Chung không hề có ý định là sẽ
trở thành một Linh mục. Anh chỉ muốn mình được giống như các Soeurs,
thanh thoát với cuộc sống Khó Nghèo, Khiết Tịnh, và Vâng Phục để có
thể phục vụ người nghèo toàn tâm toàn trí. Các Bề Trên rất là ngần
ngại nhận anh. Anh đuợc may mắn có được sự ưu ái nâng đỡ của Soeur
Camille, bản thân Soeur cũng là một Phật Tử trở lại Công Giáo, rồi đi
tu và làm đến Bề Trên Giám Tỉnh Nữ Tử Bác Ái Vinh-sơn.
Ngày 15.9.1994, Chung vào Nhà tập Dòng Lazariste ( Dòng Vinh-sơn Nam ). Anh là người
lớn tuổi nhất trong các Tập Sinh. Ai cũng ái ngại cho anh, vốn là một
bác sĩ công thành danh toại mà bỏ mọi sự vinh hoa đi theo đuổi ơn gọi
Tu Sĩ trong một Dòng Tu, sống đời sống chung vốn rất phức tạp với các
bạn trẻ chỉ bằng nửa tuổi đời của anh. Nhưng mọi cái anh đều vượt
qua, không phải dễ dàng đâu, vì anh là một người hết sức khiêm nhường
và yêu thương mọi người. Đối với anh, được trở thành một Tu Sĩ không
có chức Linh Mục cũng là một diễm phúc lớn lao rồi vì khi đó anh biết
rằng cả cuộc đời mình sẽ được dành cho người nghèo. Nhưng con đường
của Chúa bao giờ cũng vượt qua những suy nghĩ nhỏ bé của con người.
Ngày lễ Đức Mẹ Truyền Tin, 25.3.2003, Giáo Hội nhân danh Chúa Giê-su gọi
anh lên Bàn Thờ để ban cho anh chức Linh Mục Đời Đời của Chúa Giê-su
tại Nhà Thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài-gòn.
Ngày 3.4.2003, Linh Mục Augustino Nguyễn Viết Chung quay về Trại Phong Bến Sắn
dâng Thánh Lễ Tạ Ơn trong sự hân hoan của các bệnh nhân phong.
Cha cùng dâng Thánh Lễ Đồng Tế với 13 Linh Mục, trong đó có Cha Sở Bến
Sắn Vinh-sơn Trần Thế Thuận, người mà mới 9 năm trước đây đã làm Lễ
Rửa Tội cho cha. Cha vẫn không có gì khác trước. Vẫn có thái độ khiêm
nhường yêu thương và cung kính với các người bệnh. Cha vẫn xưng mình
là “con” khi nói chuyện với các bệnh nhân có tuổi.
Mẹ của cha nay đã bị lòa. Cha mẹ của cha vẫn là các Phật Tử tốt
lành, họ có nhiều lúng túng khi các người Công giáo cung kính gọi họ
là ông bà cố. Các anh em, các cháu của cha, giống như cha lúc trước, rất
lọng cà lọng cọng khi dự lễ do cha dâng. Cha luôn tự cho mình là một người
bổn đạo mới nên ai nói gì với cha, cha cũng chân thành lắng nghe.
Cha cảm động vô song khi có một bà cụ mà cha không quen biết đến nắm
tay cha nói rằng trong bao nhiêu năm nay ngày nào bà cũng cầu nguyện cho cha
được bền đỗ đến cùng. Có một Soeur còn dạy cha rằng ơn gì Chúa cũng
tự ban cho mình dù mình không cầu xin, nhưng riêng ơn trung thành thì mình
phải khẩn thiết van nài hằng ngày thì Chúa mới ban cho. Các Soeurs đều
rướm nước mắt khi dự Thánh Lễ do cha dâng. Đây quả là một điều tuyệt
vời chỉ có Chúa mới làm được.
Cha rất buồn vì hai ân nhân lớn của cha: Soeur Camille và Dì Hai Loan đã
qua đời mà không được hưởng niềm vui vì ơn gọi mà hai Soeurs dày công
gầy dựng đã đơm hoa kết trái tốt đẹp.
Không biết vị giáo sư bác sĩ Linh Mục khả kính Lischenberger, thần tượng
ngày xưa của cha có còn trên cõi đời này không và có biết được sau cùng
thì người học trò của mình cũng đã được nên giống mình: trở thành
một Linh mục bác sĩ.
Cha cảm tạ mọi người đã nâng đỡ cha trên con đường tiến đến chức
Linh mục và cam đoan sẽ thể hiện lòng biết ơn đó qua việc cố gắng sống
trung thành ba lời khấn Khó Nghèo, Khiết Tịnh và Vâng Phục của một Tu Sĩ.
Thế gian cho rằng ba lời khấn là những cái vòng kềm hãm tự do của một
con người nhưng thực ra đó chính là những cái cánh làm cho người Linh mục
Tu sĩ tự do bay bổng vào khung trời rộng mở của Đức Ái theo đòi hỏi
của Chúa Giêsu là hãy yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta.
Từ nay ngoài công việc chăm sóc cho người bệnh với tư cách một bác sĩ,
cha còn mang lấy trọng trách mới, theo như Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống nhắn
nhủ, là chăm sóc cho mọi người trong thiên chức Linh Mục.
Trích Ephata 110
VietCatholic News (10/02/2003 )
Cái đảo xa xăm ấy nằm cô
đơn giữa lòng Thái Bình Dương mênh mông.Trên đảo toàn là người hủi:
cụt tay, đứt chân, mắt đui, mày lỡ, răng rụng.
Một hôm, Đức Giám Mục đặc trách quần đảo gióng tiếng kêu gọi các
Linh mục ở Âu châu tình nguyện hy sinh sang đó phục vụ. Một linh mục trẻ,
đẹp trai, thông minh, khoẻ mạnh hăng hái đáp lời. Đó là Cha Đamiên, người
về sau được thêm biệt danh : “Tông đồ người hủi”.
Chiều hôm đó, trong nhà thờ đông nghẹt những người hủi da ngăm đen với
mùi hôi tanh nồng nặc, Đức Giám Mục đứng trên bàn thờ quay xuống giới
thiệu với giáo dân: “Các con thân mến, các con hằng mong ước có một
linh mục đến cùng các con, thì đây, cha Đamiên, một linh mục người Bỉ
sẽ sống chung với các con từ nay cho đến chết. Các con có sung sướng không?”
Cả nhà thờ xôn xao, thì thầm to nhỏ. Cha Đamiên đứng cạnh Đức Giám Mục
chẳng hiều tí nào. Rồi họ từ từ tiến lên cung thánh, dáng điệu chất
phác đơn sơ. Cha Đamiên càng nhìn thấy họ đến gần càng sởn tóc gáy.
Họ trông như những thây ma còn sống, như những quái thai mất hẳn dáng
người. Họ làm gì đây ? Họ tiến đến bên Cha sờ vào mặt, vào tay,
vào áo cha…Cha hỏi Đức Giám Mục : “Họ làm gì thế? Nói gì thế?”
Đức Cha trả lời : Họ nói, họ không thể tưởng tượng được một
người ở phương xa, chẳng bà con huyết thống gì với họ, còn trẻ, đẹp
trai, không bệnh tật như cha, tự nhiên lại đến phục vụ họ trên mãnh
đất khốn cùng này. Họ không tin mắt mình nên mới đến sờ mó vào người
cha, xem thử cha có thực sự bị phung hủi như họ không. Rồi họ nói với
nhau :” Không, cha đẹp quá!”
Dần dần, Cha Đamiên hoà đồng được với họ. Ngài không còn cảm thấy
tởm gớm họ như ngày đầu. Nói đúng hơn, Ngài quá yêu Chúa Giêsu bị bỏ
rơi trong họ nên chẳng còn thấy e sợ, gớm ghiếc chi.
Một ngày kia, đến lượt Cha cũng bị mắc bệnh phong hủi. Thân hình Cha lở
loét, nhức nhối. Mặt mày Cha sù sì, đen đủi, u nần trông rất dễ sợ.
Một số báo ở Bỉ đăng hình Cha mô tả sự hy sinh vĩ đại của cha. Bà
cụ của cha mắt mờ không đọc được, nhìn vào bức hình cũng chẳng nhận
ra nổi đứa con yêu. Bà hỏi con cháu: Hình ai đây mà trông mà trông ghê sợ
vậy?”. Con cháu trả lời: "một người hủi trên đảo Molokai của
anh Đamiên đấy”. Qua mặt được bà cố, nhưng họ lại nhìn nhau và
không ai bảo ai, tất cả đều xót xa rơi lệ.
Cha Đamiên đã sống với người hủi cho đến chết. Tình yêu Chúa đã
giúp cha hy sinh suốt đời vì họ. (ĐHY Nguyễn Văn Thuận, những người
lữ hành trên đường hy vọng, trang 60).
Ơ Việt nam có hai trại cùi lớn : Di linh ( Bảo lộc) và Quy Hoà ngoại ô
thị xã Quy nhơn.
Đức Cha Jean Cassaigne sau 15 năm làm Giám Mục Sài Gòn đã tình nguyện về
sống giữa những người bệnh cùi ở Di linh. Ngài sống với họ 18 năm rồi
lây bệnh và qua đời. Trái tim của người Việt nam và cả thế giới đều
rung cảm, ai cũng cảm phục tấm gương chứng nhân của Ngài.
Cha Phaolô Mahu, một Linh mục người Pháp đã từ giã quê hương với cuộc
sống tiện nghi đến sống giữa những người cùi ở Quy hoà cho đến chết.
Xác Ngài được chôn cất ngay giữa làng cùi bên cạnh những người Ngài
thương yêu nhất.
Ngày nay các giáo xứ thường tổ chức hành hương đến Di Linh, Quy Hoà để
viếng mộ Đức Cha Cassaigne và cha Mahu, thăm viếng
và tặng quà cho các bệnh nhân.
Các Nữ tu của các dòng Nữ đã đến sống phục vụ giữa những người
bị xã hội loại trừ. Chính tình yêu Chúa Kitô đã thúc đẩy các môn đệ
đến sống với họ, yêu mến họ, chăm sóc phục vụ họ.
Chúa đã sờ đến người cùi và họ được lành sạch. Các môn đệ của
Chúa cũng sờ vào người cùi, sống với người cùi đem lại cho họ tình
thương, bình an và niềm vui .
Linh mục Nguyễn Hữu An
Đọc thêm:
VietCatholic News (11/10/2003 )
Vào tháng tư năm nay, một tin tức
gây sửng sốt cho các Kitô hữu tại Việt-Nam cũng như ở hải ngoại qua bài
“BA MƯƠI NĂM CHO MỘT GIẤC MƠ” đăng trên Ephata số 110. Bài đó
viết về giấc mơ của một Phật tử - bác sĩ Nguyễn Viết Chung - người
mà trước đây rất cảm mến cuộc đời hy sinh của Đức Cha Jean
Cassaigne, vi giám mục người Pháp đã gởi nắm xương tàn ở trại cùi Di
Linh. Bác sĩ đã ôm ấp một giấc mơ từ ba mươi năm nay là được phục
vụ các người xấu số như Đức Cha Jean Cassaigne.
Sau khi tốt nghiệp y khoa vào năm 1980, bác sĩ Nguyên Viết Chung đã tình
nguyện phục vụ ở các trại phong cùi và tại đây bác sĩ Chung đã chứng
kiến sự tận tụy hy sinh của các nữ tu nghĩa tử dòng Thánh Vinh-Sơn nên
đã quyết định theo đạo Công giáo vào tháng 5 năm 1994 với tên thánh
Augustinô. Vào tháng 8 năm đó, bác sĩ Chung xin vào tu dòng Thánh Vinh-Sơn và
đã nhận lãnh thánh chức linh mục ngày 25 tháng 3 năm nay để có thể tận
hiến đời mình một cách trọn vẹn hầu phục vụ các bệnh nhân phong
cùi và liệt kháng.
Vì xúc động bởi mẩu tin đó, tôi đã nhờ người bạn thân ở Saigon
liên lạc để kiếm giùm cuốn video Thánh lễ phong chức của cha Augustinô
Nguyễn Viết Chung. Gần đây tôi đã được toại nguyện khi một linh mục
trẻ về thăm Việt-Nam và vừa trở lại Canada đã mang sang cuốn video đó
cho tôi. Được xem lại Thánh lể trang nghiêm và sốt mến mà trong đó một
bác sĩ - trước kia là Phật tử - nay trong phẩm phục phó tế, đang hiên
ngang tiến vào thánh đường họ đạo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Saigon
và đã nằm phủ phục trước bàn thờ để nhân lãnh thánh chức linh mục.
Càng cảm động hơn nữa khi tôi được xem cuốn video thứ hai trình bày những
hoạt động phục vụ của cha Chung ở tại các trại phong cùi và bệnh liệt
kháng. Một quang cảnh đã gây ấn tượng mạnh nơi tôi là khi thấy cha
Chung sau khi thăm viếng khám bệnh các bệnh nhân phong cùi xong thì đã đứng
vòng quanh với các bệnh nhân đó mà có người đứng, người ngồi hay nằm
trên giường hoặc giữa sàn nhà, vừa hát vừa vỗ tay… Thật đau xót khi
thấy vài bệnh nhân mà đôi bàn tay không còn một ngón hay chỉ còn một
vài nửa ngón mà cũng ráng vỗ tay theo nhịp điệu bài hát!
Trong những sách thiền có đề cập đến công án về “tiếng vỗ của
một bàn tay” khiến người Tây phương khi nghiên cứu phải điên đầu
về ý nghĩa của công án đó. Thông thường tiếng vỗ chỉ phát ra khi hai
bàn tay chạm nhanh và chạm mạnh vào nhau, Cứ suy lý đó thi với một bàn
tay không thể nào gây nên tiếng vỗ tay được.
Theo thường tình, phải có môi trường (tức không khí...) thì mới có âm
thanh, và chỉ có những rung động hay đột xuất làm thay đổi áp suất của
môi trường mới cho chúng ta âm thanh. Vậy một tay đập mạnh trong không
khí sẽ cho chúng ta tiếng cọ xát (tức gió), nhưng nếu nhanh hơn vận tốc
âm thanh sẽ cho chúng ta tiếng nổ siêu thanh Từ tiếng kêu của vô thanh tới
tiếng nổ của siêu thanh đều có thể thực hiện được.
Như vậy không có tiếng vỗ của một bàn tay. Thế nhưng, mục đích của
công án đó là để giúp chúng ta tìm sự thinh lặng của vũ trụ, đồng
thời cho chúng ta thấy những giới hạn của con người trong những vòng lẩn
quẩn của lý luận và của trí thức. Chúng ta phải cảm nghiệm được sự
im lặng tuyệt đối hiện hữu trước chúng ta và sau khi chúng ta thôi hiện
hữu.
Và như vậy, dưới nhãn quan của thiền gia, người nào nhận ra được chân
lý đó sẽ có cơ hội gạt bỏ hết các tạp niệm để hoà mình với vũ
trụ, làm một với vũ trụ, trở nên một phần tử cùng hiện hữu với vũ
tru. Chỉ có thế chúng ta mới thấy mình và tha nhân là một. Do đó khi
mình vượt lên trên mọi đối đãi, thị phi thì mình sẽ tìm về với tuyệt
đối, chân như.
Vậy tiếng vỗ “vô thanh” của hai bàn tay mà năm ngón đã rơi rụng hết
đã tạo thành những tiếng nỗ siêu thanh xuyên phá quả tim con người! Tiếng
nỗ siêu thanh đó đã xuyên thấu con tim của một bác sĩ trẻ tuổi, khôi
ngô tuấn tú khiến bác sĩ tỉnh ngộ mà tận hiến đời mình cho những
con người xấu số đang mang lấy trong thân xác khổ đau của họ những
thiếu sót trong thân thể khổ nạn của Đức Kitô.
Trước đây Phi-la-tô đã trình diện cho dân Do-Thái một Đức Kitô với thương
tích đầy mình cùng chiếc mũ gai trên đầu rồi nói: “Nầy là người!”
(Ecce homo). Qua cuôn video đó những vết thương đau của Đức Kitô đang hiển
hiện qua các thân thể đớn đau của những người phong cùi và liệt
kháng cũng được trình diện cho những người dự khán. Ngày xưa khi nói về
Đức Kitô khổ nạn trên thập giá, tác giả Thánh vịnh đã viết: “Hởi
người bộ hành, hãy đứng lại nhìn xem, có đau khổ nào lớn hơn nỗi
đau đớn mà tôi đang chịu đây chăng!” Nỗi đau đớn của Đức Kitô
còn đang tiếp nối trong những thân thể bị tàn phá bởi chứng phong cùi
hay bệnh liệt kháng. Những tiếng vỗ của một bàn tay vì bàn tay kia đã
cùn cụt hay tiếng vỗ của đôi bàn tay mà năm ngón đã rơi rụng hết có
cảm động tâm can chúng ta như đã cảm động cậu Nguyễn Viết Chung ba
mươi năm về trước không?
Cùng với Lm. Nguyễn Công Đoan, chúng ta cầu xin Chúa cho chúng ta được thực
hiện trong đời sống mình những tâm tưởng sau đây để hàn gắn phần
nào những thương đau của những con người xấu số, những phần thân thể
còn đang bị thương tổn của Đức Kitô:
Lạy Chúa, xin cứ dùng con theo ý Chúa
Làm chân tay cho những người què cụt,
Làm đôi mắt cho ai phải đui mù,
Làm lỗ tai cho những người bị điếc,
Làm miệng lưỡi cho những người không nói được,
Làm tiếng kêu cho người chịu bất công…
(Trích bài thơ “Như Một Sự Tình Cờ”)
Phú Vĩnh
Đọc thêm:
VietCatholic News (04/04/2003 )
Sài Gòn: Cách đây gần 1
thập niên, có ai ngờ rằng tại một thành phố lớn nhất Việt Nam sẽ
có một Bác Sĩ ở ngoài tuổi 30, không phải là một người Công Giáo để
rồi một ngày nào đó sẽ trở thành Linh Mục. Nhưng sự thật không ngờ
đã xảy ra
Bác Sĩ Augustinô Nguyễn Viết Chung, 48 tuổi đã được Ðức Giám Mục Phụ
Tá Giuse Vũ Duy Thống truyền chức Linh Mục vào ngày Thứ Ba 25/3 tại Nhà
Thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Sài Gòn.
Trong Thánh Lễ ngoài họ hàng thân quen, các Linh Mục và Tu Sĩ còn có các Nữ
Tu Dòng Nữ Tử Bác Ái Thánh Vinh Sơn. Nhiều người không nghĩ rằng một Bác
Sĩ sẽ trở thành Linh Mục. Thật khó tưởng tượng cho một người "lớn
tuổi" nghĩ đến Ðời Sống Tu Sĩ và dấn thân theo ơn gọi làm Linh Mục.
Nhưng thật sự, cuộc đời dấn thân của tân chức có được nhờ vào
lòng khiêm nhường và cuộc sống đơn giản.
Cha Nguyễn Viết Chung phải "phấn đấu thật khó khăn và học hành rất
vất vả vì tuổi đời đã cao".
Cha Nguyễn Viết Chung đã kể lại cảm nghiệm cuộc đời của Cha để trở
thành một người Công Giáo và trở nên một Linh Mục.
Gia đình Cha rất nghèo với 9 người con, và ông Cố là một người lính
phục vụ trong quân đội thời trước. Cha Chung đã kể lại vào lúc thiếu
thời 17 tuổi đã có lần muốn kết liễu cuộc sống vì những khó khăn và
cuộc sống cải vã trong gia đình, nhưng đã có người cứu mạng Cha.
Cuộc đời Cha đã được đánh động và thay đổi khi đọc được một bài
gương chứng nhân của một linh mục ngoại quốc dấn thân cuộc đời phục
vụ trong trại cùi cho dân tộc thiểu số tại Việt Nam, nên Cha đã quyết
định đi theo học ngành y khoa.
Sau khi tốt nghiệp Bác Sĩ vào năm 1980, Bác Sĩ Chung theo học về khoa da liễu
chuyên chữa trị các chứng bịnh ngoài da và phục vụ tại trại cùi Bến
Sắn do các Nữ Tu Nử Tử Bác Ái thánh Vinh Sơn đang phục vụ tại đây.
Tân Bác Sĩ cảm kích đến sự dấn thân tận tụy phục vụ của các Nữ
Tu tại trại cùi. Bác Sĩ Chung nhớ đến lần Bác Sĩ đã quá nóng nảy gắt
gỏng một bệnh nhân cùi, sau đó một Nữ Tu đã trách Bác Sĩ: "Các bệnh
nhân đang chịu đau khổ còn Bác Sĩ thì không. Làm sao Bác Sĩ lại đi so sánh
sự khó khăn của Bác Sĩ với sự đau yếu kéo dài trong suốt cuộc đời
họ?".
Bác Sĩ Chung kể lại sự khiển trách ấy như một tiếng sét đánh đã mở
lòng và thôi thúc Bác Sĩ quyết định theo đạo Công Giáo và trở thành một
tu sĩ Dòng Vinh Sơn, để Bác Sĩ có thể phục vụ các bệnh nhân theo cùng
linh đạo của Dòng.
Bác Sĩ Chung được rửa tội vào tháng 5/1994 sau 14 năm tốt nghiệp Bác Sĩ
và sau đó được nhận vào nhà tập Dòng Vinh Sơn vào tháng 8/1994 cũng là
thời gian khai trường tại Việt Nam. Bác Sĩ Chung cũng gặp khó khăn để
được nhận vào nhà tập vì tuổi đã cao và Bác Sĩ cũng là tân tòng mới
gia nhập đạo Công Giáo và gia đình của Bác Sĩ Chung không một người nào
theo đạo Công Giáo.
Trong dịp thụ phong Linh Mục, Ðức Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống cũng đã
cám ơn gia đình vào cuối buổi lễ vì đã cống hiến dâng tặng một người
con, một người anh em cho Thiên Chúa.
Bà Cố của tân chức Nguyễn Thị Chấn đã bày tỏ cảm nghiệm: "Tôi
rất vui mừng vì đứa con tôi được thụ phong Linh Mục và tôi cảm tạ
trời đất đã giúp nó đạt được ước nguyện của mình". Bà Chấn
thêm rằng Bà "chắc chắn là con bà sẽ theo đạo Công Giáo" khi
Bác Sĩ Chung phục vụ tại trại cùi Bến Sắn "nơi các Nữ Tu đang làm
việc tại đó".
Bà Cố mắt đã lèm nhèm không còn thấy rõ và rất gìà yếu phải có người
người dìu đi. Bà ủng hộ và chấp nhận để đứa con trai quyết định
cho cuộc đời tương lai của mình, mặc dầu Bà biết rằng khi Bác Sĩ
Chung gia nhập Dòng, gia đình sẽ phải rất khó khăn về kinh tế vì Bác Sĩ
Chung là trụ cột chính nuôi sống gia đình.
Khi được hỏi về lý tưởng và hy vọng trong đời mục vụ, tân chức
Nguyễn Viết Chung nói: "Tôi sẽ mang Tin Mừng đến cho mọi người ở
bất kỳ nơi đâu, nhưng tôi cũng sẵn sàng phục vụ cho các bệnh nhân bất
kể nơi nào Dòng gởi tôi đi".
Linh Mục Bác Sĩ Augustinô Nguyễn Viết Chung hiện đang phục vụ cho các bệnh
nhân mắc bệnh liệt kháng Siđa tại Trung Tâm Củ Chi do các Nữ Tu Nữ Tử
Bác Ái đảm trách.
Các Linh Mục Tu Sĩ Việt Nam ai cũng là Bác Sĩ cả, chuyên khám nghiệm và
chữa trị đủ loại căn bệnh về phần hồn. Nhất là trong Mùa Chay, nhiều
bệnh nhân mới khám phá ra căn bệnh của mình, các Cha rất vất vả phải
ngồi hàng tiếng đồng hồ chữa trị trong các tòa giải tội. Các Linh Mục
Bác Sĩ chữa bệnh về phần xác thì không phải là không có nhưng rất hiếm,
ít có Linh Mục nào sau khi chịu chức lại xin Bề Trên đi học ngành y
khoa, có chăng như đã xảy ra là một số Linh Mục theo học ngành thuốc
Nam.
Nhưng các Bác Sì đã đeo đuổi ngồi ghế đại học sau 7 năm để tốt
nghiệp rồi xin đi tu thì không phải là không có. Theo con mắt và nhận
xét của người đời thì ắt hẳn sẽ có rất nhiều người, nhất là nhiều
cô thiếu nữ sẽ ngẫm nghĩ rằng "anh chàng Bác Sĩ này chắc là bị
dang dở tình yêu hay không được 'bình thường' !". Nhưng tiếng gọi từ
bên trong đã thôi thúc các Ngài đến một ngày con người không ngờ và
các Ngài đã tỏ ra có một tâm hồn dấn thân tột độ vì tha nhân. Thí dụ
như Bác Sì Cổ Tấn Hưng, một Bác Sĩ sau khi tốt nghiệp đã xin gia nhập
vào Dòng Tên, đang khi phục vụ tại Ðà Lạt trong những ngày tản cư vào
năm 1975, Linh Mục Bác Sĩ Dòng Tên đã viết thư lên cha Cố Sesto Quercetti
Hoàng Văn Lục (là linh mục người Ý và Bề Trên Dòng Tên Việt Nam lúc bấy
giờ) để xin tình nguyện ở lại phục vụ cho giáo dân và đồng bào tại
Giáo Phận Ðà Lạt.(Linh Mục Bề Trên Dòng Tên Việt Nam Serto Quercetti
Hoàng Văn Lục, người nói tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ, đã bị trục
xuất khỏi VN vào cuối năm 1975, Ngài lên làm Giám Ðốc Trung Tâm Truyền
Hình Quang Thị tại Ðài Loan và sau được triệu về Roma để mở và làm
Giám Ðốc Ðài Phát Thanh Vatican, chương trinh Việt Ngữ. Cha đã tạ thế tại
Roma vì chứng bệnh ung thư).
Dòng Vinh Sơn được thành lập vào năm 1625 do Thánh Vinh Sơn người Pháp,
các tu sĩ Dòng Vinh Sơn đã đến Việt Nam vào năm 1954. Hiện nay Dòng Vinh Sơn
có 13 Linh Mục, 12 Thầy Phó Tế đang chờ đợi chịu chức, 43 Ðại Chủng
Sinh. Tu Sĩ Dòng Vinh Sơn phục vụ trong các lãnh vực xã hội, y tế và nhất
là truyền giảng Tin Mừng cho dân tộc thiểu số. Các tu sĩ Dòng Vinh Sơn
hiện nay đang phục vụ tại năm Giáo Phận ở miền Nam.
Ngọc Loan
Đọc thêm: