In bài

HAI HỒNG ÂN


Suy niệm của Lm Phan Văn Lợi

Ðoạn Tin mừng hôm nay, với hai giáo huấn luân lý, nằm trong văn mạch nói về chuyện Ðức Giêsu 3 lần loan báo việc Người chịu khổ nạn (Mc 8,31-33; 9,30-32; 10,32-34). Việc Mc ghép hai vấn đề này như vậy thật đáng suy nghĩ. Thay vì "lên lớp" dạy luân lý, hoặc trích luật này luật nọ trong KT (Kinh Thánh), ông nhìn nhận chỉ có một nền tảng duy nhất cho đời sống luân lý KTG (Kitô giáo) là tấm gương của Ðấng Sáng lập. Các trình thuật loan báo số phận ÐKT (Ðức Kitô) chỉ muốn cho thấy chính từ định mệnh của Người, ta sẽ hiểu được những đòi hỏi của Người. Do đó ta sẽ không còn ngạc nhiên thấy đời sống Kitô giáo có những yêu sách quyết liệt, bất khoan nhượng. Và việc thực thi được những yêu sách này là một hồng ân Thiên Chúa.

1. Hồng ân chung thủy trong hôn nhân

Trước hết là vấn đề luân lý hôn nhân. Ðức Giêsu trả lời một câu hỏi gài bẫy: "Phải chăng chồng được phép rẫy vợ?" bằng cách cố gắng làm cho các đối thủ, rồi các môn đệ của mình suy nghĩ về hôn nhân như đã được Thiên Chúa đặt ra. Chú ý kỹ, ta có thể thấy ngay là Ðức Giêsu gỡ mình khỏi quan điểm pháp lý thuần túy (lề luật có cho phép không?). Sau khi phái Pharisêu thú nhận: Môsê không phải đã "truyền dạy" mà là "cho phép", tức nhân nhượng tạm thời, Ðức Giêsu đã tái xác quyết ý định ban đầu của Ðấng Tạo Hóa, lên tới tận ý nghĩa sâu xa nguyên thủy của một trong những thực tại nhân loại quan trọng. Việc tìm kiếm ý nghĩa như thế này, điển hình của Tin mừng, thúc đẩy chúng ta trước hết chiêm ngưỡng dự định của Thiên Chúa về hôn nhân, tiếp đến là xin được hồng ân trung tín với dự định đó, vì nó không dễ thực hiện.

Ðức Giêsu muốn chúng ta chiêm ngưỡng cái gì? Chiêm ngưỡng hôn nhân như là sáng tạo của Thiên Chúa: "Lúc khởi đầu". Nhân loại sẽ không ngớt đưa ra nhiều nhận xét và luật lệ về vấn đề này, tùy theo sự tiến triển của các phong tục, nhưng Tin mừng bao giờ cũng sẽ đưa chúng ta về lại cái Thiên Chúa đã muốn: một đôi bạn thiết lập trên sự khác biệt phái tính và trên sự chung sống lâu dài.

"Lúc khởi đầu công trình tạo dựng.... Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly". Ðơn giản và mạnh mẽ. Phải bám vào tảng đá đó mỗi khi thấy chuyện tính dục đồng giới, đa thê, ly dị và bất trung, mỗi khi đứng trước các các nổi loạn, các chế nhạo hay các quan niệm khác của trần đời. Dẫu trong nhiều nền văn hóa, thiên hạ nghiêng chiều đến đâu về sự dễ dãi (đặt lại vấn đề lòng chung thủy) cũng như về sự quảng đại (thông cảm đối với những thất bại), Ðức Giêsu vẫn đòi phải luôn hướng về lý tưởng ban đầu ấy: một người nam và một người nữ yêu nhau lúc sướng khổ vui buồn, trong thời gian và cho đến vĩnh cửu.

Tình yêu mong manh ban đầu của họ phải biến thành tình yêu không lay chuyển tiếp đó: một hỗn hợp gồm âu yếm, can đảm, bền bỉ và đức tin, sẽ giúp họ đứng vững trong các cơn giông tố hay, đôi lúc tệ hơn, trong những ngày nhạt nhẽo, đặc biệt giữa hoàn cảnh bất thuận lợi cho hôn nhân như hiện thời. Hôm qua, ly dị bị đàm tiếu, và trong các môi trường kitô giáo, người ta chẳng chút thương xót chuyện ấy. Nay thì thiên hạ chấp nhận bất cứ vụ ly hôn nào, coi như một sự cố đơn giản trên hành trình thôi. Nhiều người mất lòng ao ước chiến đấu để cứu vãn một tình yêu, tình yêu của họ hay của những cặp khác.

Chính vì thế mà cần cầu nguyện, vì chiến đấu trước hết và luôn luôn là cầu nguyện. Ở đây cũng vậy, ta có thể không cưỡng được những mỉa mai và thất vọng lúc nói đến chuyện cầu nguyện để cứu vãn một tổ ấm. Nhưng một kitô hữu tin gì nếu không tin vào lời cầu nguyện? Việc cầu nguyện mà chúng ta thực hiện để thay đổi con tim kẻ khác trước hết phải là việc cầu nguyện để thay đổi chính con tim của chúng ta, các suy nghĩ, các lời nói, các thái độ của chúng ta. Nó giữ chúng ta luôn tỉnh thức về sự tiến triển của tình yêu mình. Nó đặt chúng ta lại trước Ðức Giêsu, Ðấng nói với chúng ta về ý định của Thiên Chúa: một người nam và một người nữ yêu nhau chung thủy. Vì sự trung tín đến cùng trong đời đôi bạn rốt cục là một hồng ân của Thiên Chúa.

Hôm 10/09/00 vừa qua, đã diễn ra Ngày Hội Các Gia Ðình tại quê hương của thánh Phanxicô Khó nghèo. Nhân dịp này, báo chí đã đặc biệt nhắc đến chuyện một cha dòng Phanxicô là "gia trưởng gương mẫu trong một gia đình có 7 người con" mà đa số đã dâng mình cho Chúa. Ðó là cha Probo Vaccarini, 81 tuổi, thuộc giáo phận Rimini, thi hành chức vụ linh mục đã 12 năm nay. Năm 1952, chàng thanh niên Probo Vaccarini kết hôn với cô Anna Maria Vannuci. Cả hai sống rất đạo đức, chuyên chăm thờ phượng và làm việc bác ái. Cuộc hôn nhân này vì thế được Chúa chúc lành với 7 người con. Năm 1970, bà Anna qua đời. Thấy con cái đã khôn lớn, ông Probo bày tỏ với giáo quyền ý muốn dâng mình cho Chúa. Sau nhiều thử thách, ông đã trở thành linh mục dòng Phanxicô. Nhưng trong gia đình cha Probo, không chỉ có ngài là linh mục. Ba con trai là Giovanni, Francesco và Giuseppe cũng là linh mục. Con trai thứ tư, Gioacchino, làm thày sáu. Maria Lusia là nữ tu, Maria Celeste thuộc dòng ba Phanxicô và Maria Pia đã kết hôn và có 4 con. (Theo VietCatholic).

2. Hồng ân gia nhập Nước Thiên Chúa

Tiếp ngay sau giáo huấn về hôn nhân, một số cha mẹ đã dẫn con họ đến với Ðức Giêsu để "Người đặt tay trên chúng" và họ đụng phải phản ứng thô bạo của các môn đồ: mấy ông thẳng tay xua đuổi. Ðức Giêsu bèn lợi dụng cơ hội để đưa thêm một giáo huấn mới: Nước Thiên Chúa được ban cho những người "giống chúng", và ai không đón nhận Nước này "như một trẻ nhỏ", sẽ chẳng được vào. Nhưng "như một trẻ nhỏ" và "giống chúng" nghĩa là gì? Hoàn cảnh lịch sử của Ðức Giêsu cũng như của cộng đoàn loại trừ mọi lối giải thích tâm lý học.

Không phải cái mà trẻ em tưởng nghĩ và cách chúng cảm nhận sự vật phải được coi là kiểu mẫu và lề lối. Ðúng hơn, tư tưởng Ðức Giêsu đi theo chiều hướng xã hội, dựa trên thân phận trẻ nhỏ. Nước Thiên Chúa thuộc về những ai ít được lưu tâm như trẻ nhỏ. Bởi vì trong toàn thể thế giới cổ xưa, kể cả Do thái, trẻ em đặc biệt bị coi như một cái gì chưa hoàn thành, có tính cách chuẩn bị và do đấy, đối với tư tưởng Do thái, là thiếu khả năng để thực thi Lề luật, thành thử câu 10,14 có nghĩa: Nước Thiên Chúa được ban cho những người không đủ khả năng, khờ dại, chả được học hỏi những vấn đề của luật pháp. Nói cách khác:

Nước Thiên Chúa không thể chiếm đoạt bằng những tính toán, bằng việc giữ đúng Lề luật. Nó là hồng ân nhưng không, chỉ ban cho ai sẵn sàng chờ đợi và đón nhận nó "như một trẻ nhỏ".

Thành thử lời Ðức Giêsu không đề ra cho chúng ta một tấm gương là lối cư xử trẻ con, ngay cả trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Nó cũng chẳng khuyến khích một thái độ ngây thơ sai lạc, một thái độ khiến ta trút cho kẻ khác nỗ lực nên thánh, bổn phận định đoạt số phận bản thân mình ("Con đường thơ ấu" của thánh nữ Têrêxa Hài Ðồng Giêsu hoàn toàn khác). Ðúng hơn, đây là một lời phản đối ý tưởng cho rằng chỉ những ai có khả năng tài giỏi trong những vấn đề Lề luật mới đi vào được Nước Trời. Theo phe các trẻ nhỏ như Ðức Giêsu làm ở đây (Người chứng minh bằng lời nói và hành động), thành ra là theo phe tất cả những ai chờ đợi sứ điệp và ơn cứu rỗi của Người cách đơn sơ, vô thành kiến và không bị trói buộc bởi bao truyền thống cổ lỗ, những truyền thống vốn được duy trì với những cấm kỵ và kiêu căng của chúng.

Vậy là qua hình ảnh "vị thế" xã hội của trẻ em, Ðức Giêsu muốn chống lại mọi tôn giáo muốn tìm cách quản lý hồng ân Thiên Chúa nhờ việc tự thân nỗ lực thực thi các quy tắc luân lý lẫn phụng tự của Lề luật (trường hợp Biệt phái) và như thế là muốn mua lấy hay tạo lấy sự cứu rỗi con người.


Trang Tu Đức