Ðiểm sách "Ấp ủ ước vọng thánh thiện" của Lm Chu Công
VietCatholic News(30/09/2001).
"Ấp-ủ
ước-vọng Thánh Thiện" hay "Cảm nghiệm chiêm niệm"
Tác phẩm của Linh Mục Ðan Viện Trưởng Giuse Chu Công, OCSO
Tôi được hân hạnh dịch tác phẩm"Ấp-ủ
Ước-Vọng Thánh Thiện" (embracing holy desire) của cha Chu Công
từ Anh ngữ sang Việt ngữ, như ngài đã nhờ tôi vào dịp tôi ghé thăm
đan viện của ngài ngày 6/8/1998 để mừng (muộn) 50 năm thụ phong linh mục
và 80 tuổi đời của ngài. Tôi đã mất đúng ba tuần lễ (6-27/11/1998) mới
đọc xong, từng chữ, từng lời cuốn sách về Cảm Nghiệm Chiêm Niệm
(comtemplative experience) chuyên biệt của tác giả có một không hai này.
Thật vậy, "Ấp-ủ Ước-Vọng Thánh Thiện" là một tác phẩm về Cảm Nghiệm Chiêm Niệm "có một không hai", ở chỗ, nó làm cho độc giả, sau khi đọc xong tác phẩm, cảm thấy rằng mình cũng có thể cảm nghiệm chiêm niệm như tác giả, đúng như tác giả chủ trương ngay ở chương nhất:
Những giây phút cảm nghiệm chiêm niệm này xẩy ra cho tất cả chúng ta (trang 40 và cả trang 38).
Bởi vì, qua chia sẻ cảm nghiệm chiêm niệm của tác giả, cũng ở ngay trong chương thứ nhất ấy, độc giả thấy rằng hình như chỉ cần siêng năng đọc sách và suy niệm lời Chúa là có thể đạt tới cảm nghiệm chiêm niệm như tác giả:
Những tiền biến cho cảm nghiệm đặc biệt này như sau:
Trước hết là việc tôi hằng ngày đọc và suy niệm Lời Chúa; sau đó đến việc tôi đọc nhiều các bản văn thần bí của Thánh Bơ-Na, và sau cùng là giai đoạn tôi suy niệm kỹ để cố giải đáp công án Thiền, hay câu uẩn khúc Thiền sau đây: Tay không mà lại cầm cái cuốc! Bước đi mà lại cưỡi trâu nước! (trang 41).
Chính Ðức Hồng Y James Sin đã có cùng một nhận định như thế: "Tập sách này là một chia sẻ một số cảm nghiệm chiêm niệm mà tác giả có được từ việc đọc sách thiêng liêng của mình (trang 7).
Phải, chỉ cần đọc sách thiêng liêng mà tác giả có được một số cảm nghiệm chiêm niệm, như chính tác giả đã chia sẻ ở chương một:
Sau một thời gian dài trăn trở với công án về bàn tay không ấy, thì vào một ngày mùa đông năm 1972, khoảng lúc 2 giờ sáng, tôi đi từ phòng vệ sinh về giường ngủ. Trên quãng đường dọc theo hành lang ấy, thình lình như có một cái gì vụt đến với tôi và khơi động cả con người tôi lên, làm tôi cảm thấy một cảm giác chưa bao giờ có sau bao nhiêu năm là một đan sĩ. Tôi đã cảm thấy mình như được mang đi trên mặt đất, mặc dầu tôi hoàn toàn tỉnh táo và biết rằng đôi chân của tôi vẫn ở trên sàn nhà. Tôi đã là một người cưỡi con trâu nước. Cả một lãnh giới tâm thức bất phân xâm chiếm tôi. Tôi cảm thấy mình hoàn toàn tách khỏi các cách thức suy tư và cảm xúc trước kia. Tôi không còn là mình nữa. Một cảm giác thoải mái khôn phai, an lành và minh tri phủ ngợp lấy tôi.
Trạng thái này đã đưa tôi vào một cảm thức nâng nâng và đã lên đến tột độ hai ngày hôm sau, khi tôi thức giấc vào lúc 3 giờ sáng. Bỗng nhiên tôi nhận ra sự thật nơi câu nói của Thánh Phaolô: Thân xác phục sinh của Chúa Kitô đã trở nên Thần Linh ban sự sống (1Cor.15:46). Chúa Kitô đã tràn ngập và tiếp tục ngập tràn toàn thể con người của tôi. Ðôi tay của tôi rỗng không nhưng lại đầy những tình yêu mật thiết của Chúa Giêsu. Thế rồi từ đó, đức tin của tôi nơi mầu nhiệm xác thể phục sinh của Chúa Kitô đã trở nên một thực tại nghiệm cảm: Tôi đã thấy, đúng hơn, phải nói rằng, tôi đã nhận ra thực tại này thực sự như cầm trái táo trong tay. Ðời sống kết hợp với Chúa Giêsu đã làm cho tôi tràn đầy sảng khoái và hoan lạc phi thường, một cảm nghiệm vọt lên và bừng dậy từ những nơi sâu kín nhất của con người tôi. Cảm nghiệm này đã châm lên nơi linh hồn tôi một đam mê bùng cháy, hoàn toàn giống hệt như cường độ của cuộc giao ngộ thân tình giữa người nam và người nữ. Niềm vui thấm vào tận thẳm cung của cuộc sống tôi, và làm sinh động tất cả mọi năng lực của hữu thể tôi thể lý, tâm lý, trí khôn và tinh thần (trang 43-44).
Hình như tác giả đã đi một ngõ tắt, rất là ngắn tắt, để tới bậc hay tới trạng thái cảm nghiệm chiêm niệm ấy, chứ không cần, vì không thấy tác giả kể tới, vất vả thực tập hy sinh khổ chế gì cả, trong việc trở nên lãnh đạm với tất cả mọi tạo vật để có thể tìm kiếm và trọn vẹn tuân hợp Thánh Ý Chúa, như chủ trương của linh đạo I-Nhã (Ignatus of Loyola), cũng không phải trải qua đêm tối tămtrước khi linh hồn được hoàn toàn biến đổi để hiệp nhất với Thiên Chúa, như chủ trương của linh đạo Giang Thập Tự (John of the Cross). Thật ra, theo tác giả chia sẻ với tôi qua một bức thư riêng:
Trong Phần II của bản thảo đầu tiên có 10 đoạn bàn về những vấn đề này, nhưng người sửa editor của nhà xuất bản Anh ngữ - cắt đi 7 đoạn, chỉ giữ đoạn về Thánh Thể, Ðau Khổ và Ðọc Sách Thiêng Liêng, mục đích là để Phần III nổi bật lên.
Dầu sao, căn cứ vào những gì được in thành sách hiện nay, tác phẩm hình như không muốn đi sâu vào nỗ lực khổ luyện chiêm niệm cho bằng diễn tả cảm nghiệm chiêm niệm.
Trước hết, theo cảm nhận bản thân, tác giả đã định nghĩa cảm nghiệm chiêm niệm như sau:
Trải qua tất cả những cảm nghiệm này và đem ra chia sẻ những biến động ấy, giờ đây, tôi đã có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về cảm nghiệm chiêm niệm đối với thành phần Kitô hữu. Ðó là cảm nghiệm thực sự (experiental realization) được cuộc hiệp nhất thân mật giữa chúng ta với Thiên Chúa trong Ðức Giêsu Kitô (trang 44).
Thế rồi, từ định nghĩa này, tác giả đã đề cập tới một con đường dẫn đến cảm nghiệm chiêm niệm như sau:
Con đường của tôi dẫn tới cuộc hiệp nhất thân mật với Chúa Giêsu, như tới cảm nghiệm chiêm niệm, thì đơn sơ và hèn mọn thôi: Ðó chỉ là mối tình thân của người yêu với Người Tình (trang 107).
Theo tác giả định nghĩa và trình bày thì con đường của tôi dẫn tới cuộc hiệp nhất thân mật với Chúa Giêsu, như tới cảm nghiệm chiêm niệm đòi hỏi tâm thức hơn là khổ luyện:
Chính đức tin của qúi bạn đã làm cho Chúa Giêsu hiện diện đối với qúi bạn, và Người ấp ủ qúi bạn bằng tình yêu của qúi bạn (trang 109-110).
Tác giả đã cho độc giả thấy, con đường cảm nghiệm chiêm niệm của mình ấy rất hợp với Thánh Kinh, một đường lối vốn được tàng ẩn trong Diễm Tình Ca, đoạn 7 câu 10-12:
Như tôi đã đề cập tới, Diễm
Tình Ca là một ngọn đèn soi con mắt cho tất cả những ai cố gắng theo
đường lối hôn thê hay giáo hội hóa để tiến tới cảm nghiệm chiêm niệm
nhờ được hiệp nhất thân mật với Chúa Kitô. Qua các câu từ 10 tới 12
của đoạn bảy, Diễm Tình Ca nói lên năm ý tưởng bằng một thứ ngôn từ
biểu hiệu thần bí duyên dáng kín đáo. Khi tôi suy niệm đoạn này, tôi
đã hiểu được năm ý tưởng ấy như là năm bướcÕ hay năm thực trạng
dẫn đến toàn thể cảm nghiệm chiêm niệm. Năm câu nói ở đoạn bảy của
Diễm Tình Ca như sau:
1- Tôi thuộc về Người Yêu của
tôi
2- Và người tôi yêu thuộc về tôi.
3- Hãy đến, nào chúng ta hãy đi về đồng nội,
4- Ðể xem nho nở hoa đã kết nụ hay chưa
5- Ơn đó em sẽ hiến tặng chàng ân tình của em.
Tác giả đã tuần tự dẫn giải năm ý tưởng ấy như là năm bước hay năm thực trạng dẫn đến toàn thể cảm nghiệm chiêm niệm đều căn cứ vào tâm thức hơn là khổ luyện, như sau:
Bước thứ nhất tiến tới cảm nghiệm chiêm niệm, hay tiến tới việc hiệp nhất thân tình với Chúa Giêsu, đó là tin tưởng và nhận thức rằng chúng ta được Người yêu; rằng chúng ta thuộc về Người, vì chúng ta là giá Máu của Người (trang 111).
Bước thứ hai tiến đến cảm nghiệm chiêm niệm là tin tưởng và nhận thức rằng Chúa Giêsu ước muốn qúi bạn; Người muốn qúi bạn như là người tình của Người (trang 111).
Ở bước thứ ba, lòng khát vọng nhau giữa Chúa Giêsu và linh hồn gặp gỡ nhau (trang 112).
Ở giai đoạn này, ước mong của Chúa Giêsu dành cho qúi bạn lên đến tột đỉnh của mình, và lòng khát vọng của qúi bạn dành cho Người cũng đạt được mức độ trọn vẹn thiết tha (trang 114-115).
Giây phút Chúa Giêsu và qúi bạn trao hiến tình yêu cho nhau là phút giây hiệp nhất, là phút giây kết chung. Chính ở chỗ này trạng thái hiệp nhất thân mật, hay cảm nghiệm chiêm niệm, đạt thành. Việc an nghỉ giữa Chúa Giêsu và qúi bạn làm qúi bạn hoàn toàn thực nghiệm được tình trạng sung mãn về cả phương diện loài người cũng như Thiên Chúa (trang 115).
Tác giả cho thấy đường lối cảm nghiệm chiêm niệm của cá nhân mình phát xuất từ chính Mạc Khải Thánh Kinh như thế cũng thực tế nữa, vì nó hợp với cả cảm nghiệm chiêm niệm chẳng những của các Thánh nhân Kitô giáo (Tây phương), tiêu biểu là Thánh Bơ-Na cùng dòng với tác giả, mà còn của các vị thiền sư không phải Kitô giáo (Ðông phương), tiêu biểu là Thiền Sư Hang-Sơn Lương-Chi thế kỷ thứ 9 trước Công Nguyên và Thiền Sư D.T. Suzuki hiện đại, như tác giả đã trích diễn lý thuyết của các vị này cho các chương 10 đến hết chương 15:
Tôi cũng hy vọng rằng học thuyết và kinh nghiệm của hai ông thày lão luyện này sẽ làm sáng tỏ kinh nghiệm của riêng tôi như đã được trình bày ở đoạn trên (trang 117).
Thật vậy,năm bước dẫn đến cảm nghiệm chiêm niệmcủa Thiền Sư Hang-Sơn Lương-Chi cho thấy, là năm bậc (hay năm mối liên hệ) mà thiền sinh phải vượt qua trên con đường tiến tới việc cảm nghiệm được một Thực Tại. Năm Bậc đó như sau:
1- Khách ở trong Chủ (Guest in
Host)
2- Chủ ở trong Khách (Host in Guest)
3- Chủ tỏ mình ra (Resurgence of the Host)
4- Chủ Khách Tương Phùng (Mutual Interpenetration)
5- Khách Chủ Hiệp Nhất (Unity Attained)
Theo tác giả diễn giải, năm bậc này cũng thiên về tâm thức hơn là khổ luyện.
Tuy nhiên, theo tác giả chia sẻ riêng, thì kiên nhẫn suy niệm theo Năm Bậc này có thể còn khó khổ luyện hơn ăn chay đánh tội.
Bước thứ nhất dẫn đến cảm nghiệm chiêm niệm là việc nhận thức được rằng "Khách ở trong Chủ", hay chúng ta ở trong Thiên Chúa (trang 125).
Bước thứ hai này dẫn chúng ta tới việc ý thức được rằng Thiên Chúa đang ở trong chúng ta rồi. Ðiều cần là việc chúng ta nhận thức được việc Thiên Chúa hiện diện trong thẳm cung con người của mình (trang 131).
Ở bước thứ ba thì Khách là thành phần trước kia đã nhận thức được mình như chẳng có gì và nghèo hèn, giờ đây bắt đầu nhận biết mình được dựng nên theo hình ảnh và tương tự như Thiên Chúa (Gn.1:26-28) và thông phần với bản tính thần linh (2Pt.1:4). Khi nhận thức ấy lớn lên trong linh hồn chúng ta thì chúng ta bắt đầu cảm thấy rằng Thiên Chúa thực sự đang sống trong chúng ta, và chúng ta cũng thực sự sống trong Thiên Chúa (trang 141).
Nơi Bước Thứ Bốn, Khách nhận thức được cái duy nhất của mình với Chủ. Cái duy nhất với Chủ này bao gồm cả cái duy nhất với tất cả, để việc nhận thức gồm tóm mọi sự lẫn mọi người. Nếu thiền sư Hang-Sơn Lương-Chi đã diễn tả Bước Thứ Bốn là "giọt sương loang trong biển sáng" thì Bước Thứ Năm là hoàn vũ thành nên tôi (trang 165).
Tới Bước Thứ Năm, bước đạt tới tình trạng hiệp nhất giữa Chủ và Khách như là một trạng thái nghỉ yên, một trạng thái quân bình sinh động thực sự. Ở Bước Thứ Bốn mới là bước bắt đầu tình trạng hiệp nhất là tình trạng được ước mong và tìm kiếm theo lòng khát vọng yêu thương tha thiết. Ðến Bước Thứ Nam thì đã đạt tới đích là tới trạng thái hoan hưởng an bình (trang 167).
Theo tác giả, chỉ khi nào đạt tới bậc thứ năm hay bước cuối cùng của năm bước dẫn đến cảm nghiệm chiêm niệm, linh hồn mới thực sự đạt được toàn thể cảm nghiệm chiêm niệm (trang 108). Nghĩa là đạt tới tình trạng hiệp nhất, trạng thái nghỉ yên, trạng thái hoan hưởng an bình, chứ không phải chỉ có những giây phút (moment) thoáng qua thôi.
Thực tại cảm nghiệm chiêm niệm thường xuyên liên tục nơi linh hồn đạt tớ toàn thể cảm nghiệm chiêm niệm như thế đã được tác giả xác định rõ hơn bản chất của nó ở chương cuối cùng như sau:
Sống một đời chiêm niệm không là gì khác ngoài việc sống thực sự trước nhan Chúa Ba Ngôi (trang 212).
Sống hiệp thông với Chúa Ba Ngôi chính là cảm nghiệm chiêm niệm của chúng ta. Thế nên, nó không phải là một đường lối sống đặc biệt dành cho một số nhỏ cá nhân nào đó được kêu gọi lìa xa thế gian để vào sống trong sa mạc. Sống hiệp thông với Chúa Ba Ngôi phải là chính hơi thở của mọi người môn đệ Chúa Kitô (trang 213).
Sống hiệp thông với Chúa Ba Ngôi là cảm nghiệm chiêm niệm của chúng ta. Cuộc hiệp thông càng thân mật thì cảm nghiệm càng sâu xa (trang 216).
Chính tác giả, người mà nhà xuất bản Anh ngữ đã giới thiệu rằng ngài là "người đã đạt tới nơi" (trang 11), cũng đã chân tình chia sẻ tầm mức cảm nghiệm chiêm niệm của mình, từ tầm mức giây phút đến tấm mức trạng thái cảm nghiệm chiêm niệm, như sau:
Một trong những hiệu quả từ "giây phút" cảm nghiệm chiêm niệm của tôi, mà tôi đã chia sẻ với qúi bạn trước đây, đó là một cái thoáng nhìn vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Vào lúc ấy, tôi cảm nghiệm thấy Ba Ngôi Thiên Chúa như hiện lên trước mắt tôi giống một biển cả mênh mông yêu thương và sự sống. Trong cuộc cảm nghiệm ấy tôi không biết là lúc nào có lúc biển cả mênh mông này dồn dập dâng lên tới "Tuyệt Ðỉnh"(the Marvelous Peak). Tôi cảm thấy việc biển cả mênh mông dâng lên đến tuyệt đỉnh này như là việc Chúa Cha nhiệm sinh Chúa Con. Phần Chúa Con là tuyệt đỉnh ấy đáp lại tình yêu của Chúa Cha bằng cách trào mình xuống vực sâu của biển cả này. Khi việc trào mình xuống này tiến đến "vực thẳm huyền nhiệm", nó trở thành một niềm hạnh phúc vô cùng. Tôi thấy niềm hạnh phúc vô cùng này như là Chúa Thánh Thần (trang 214).
Vẫn biết đường lối dẫn đến cảm nghiệm chiêm niệm của tác giả là ở ý thức hơn là khổ luyện, thế nhưng, cốt lõi của vấn đề cảm nghiệm chiêm niệm đối với tác giả đây, theo tôi nghĩ, lại không phải là ý thức cho bằng lòng khát vọng, yếu tố làm nên danh xưng "Ấp-ủ Ước-Vọng Thánh Thiện" Thánh Thiện của chính tác phẩm có nội dung về cảm nghiệm chiêm niệm. Tác giả đã khẳng định điều này trong chương kết thúc cuốn sách như sau:
Trong những chương trước, tôi đã chia sẻ một vài minh thức đơn sơ về cảm nghiệm chiêm niệm cũng như những đường lối dẫn đến cảm nghiệm chiêm niệm này. Một điều chắn chắn là không một ai trong chúng ta làm chủ được việc chúng ta yêu mến Thiên Chúa hay đời sống chiêm niệm của mình cả. Tất cả mọi bậc thày chiêm niệm Ðông Tây đều nhấn mạnh đến điều này, đó là muốn được cảm nghiệm chiêm niệm thì cần phải có một tấm lòng tinh khiết và phải trung thành sống bậc sống của mình; nó cũng đòi phải thiết tha ước muốn, khiêm cung cầu nguyện và kiên trì nhẫn nại (trang 203).
Ước muốn ấy vừa là nhiên liệu vừa là dưỡng chất cho việc cảm nghiệm chiêm niệm. Thánh ước này vẫn chưa thỏa nguyện nơi trạng thái "Ðạt Thành Hiệp Nhất", mà chỉ làm tăng thêm dồi dào hơn những gì nó yêu chuộng theo lòng khát khao của mình. Ðó là động cơ làm nên sự kiên trì nhẫn nại và sự liên tục của niềm thánh ước, bất chấp các trở ngại làm chán nản đến mấy hay Tân Lang có đến muộn màng đến đâu đi nữa (trang 204).
Riêng tôi, như đã diễn tả trong Lời Trần Tình ngay đầu sách (trang 22):
Khi vừa nhận "bản mẫu" cuốn "Contemplative Experience" (cảm nghiệm chiêm niệm), bản đã được tác giả quãng diễn sâu rộng hơn và đặt cho một tựa đề mới là "Embracing Holy Desire" (ấp ôm thánh ước), tôi cảm phục tác giả của nó liền, và tự nhiên thấy mình hết sức hứng khởi để thực hiện việc chuyển dịch tác phẩm chiêm niệm thuần túy đầu tiên của một tác giả Việt Nam.
Ðối với tôi, ngoài hai đoạn văn (trang 203-204) vừa được trích lại trên đây, đoạn văn chính yếu nhất của cả tác phẩm, đoạn cho thấy chẳng những mức lão luyện của vị tác giả trong việc từng trải cảm nghiệm chiêm niệm, mà còn làm sáng tỏ nhan đề "Ấp-ủ Ước-Vọng Thánh Thiện" của tác phẩm, nằm ở nơi trang 111-112:
Chính Chúa Giêsu là Ðấng đã
yêu qúi bạn trước và mong sao qúi bạn được cuốn hút vào tình yêu
thân mật của Người. Người là Ðấng khai đường mở lối. Người phán:
"Thày đã đến mang lửa xuống thế gian, và Thày mong cho nó bùng cháy
lên" (Lk.4:10).
Qúi bạn không thể vội vã bước đi mà phải hoàn toàn cởi mở và tiếp
nhận. Ðể được hiệp nhất qúi bạn phải thụ động trước tác động
của Chúa Giêsu. Thánh Gioan đã viết:
Tình yêu là thế này,
Ðó là không phải chúng ta yêu mến Thiên Chúa,
Mà là Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước (1Jn.4:10).
Chính vì tình yêu tiên phong này của mình đối với chúng ta mà Chúa Giêsu đã mong đợi chúng ta, tìm kiếm chúng ta và yêu thương chúng ta trước khi chúng ta tìm kiếm và yêu mến Người. Quyền lực của lòng Chúa Giêsu khát vọng khiến chúng ta phải đáp ứng lòng khát vọng của Người, mà nếu thiếu việc đáp ứng này, không ai có thể đến cùng Người. Tính chất khát vọng ấy phát xuất từ lòng từ ái vĩnh cửu của Chúa Giêsu.
Ðúng thế, chính vì Thiên Chúa đã yêu con người trước, nên Ngài đã đến tìm kiếm con người, bằng việc tỏ mình ra cho họ, qua Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, Lời nhập thể. Bởi vậy, lúc mà con người nhận ra Ðấng tỏ mình cho họ là giây phút họ thực sự được cảm nghiệm chiêm niệm. Tác giả đã minh thức (insight) được điều này và đã nhiều lần diễn tả:
Chính đức tin của qúi bạn đã làm cho Chúa Giêsu hiện diện đối với qúi bạn, và Người ấp ủ qúi bạn bằng tình yêu của qúi bạn (trang 109-110, 115, 208).
Và vì việc tỏ mình ra là phần của Thiên Chúa, Ðấng muốn thương ai thì thương (Rm.10:15), nên ai cũng có thể cảm nghiệm Ngài, dù họ là thành phần nào đi nữa, thậm chí là tội nhân hay là dân ngoại, (do đó chúng ta không lạ gì các thiền sư ngoài Kitô giáo, như các vị được tác giả trích dẫn trong tác phẩm của mình, cũng có những tư tưởng chiêm niệm cao siêu như ai), miễn là họ thành tâm khao khát tìm kiếm chân lý.
Phúc âm đã cho chúng ta thấy vô số những trường hợp cảm nghiệm chiêm niệm điển hình, tức những trường hợp con người xác thịt được giao ngộ với Thiên Chúa là Thần Linh (Jn.4:24). Chẳng hạn như những trường hợp của người phụ nữ Samaritanô, vừa ngoại lai lại vừa tội lỗi (x.Jn.4:15,26,29), của người trưởng ban thu thuế (x.Lk.19:10,5,8), của viên đại đội trưởng ngoại bang ở Caphanaum (x.Lk.7:6,7,9), của một người phụ nữ tội lỗi nổi tiếng trong thành (x.Lk.7:37, và 7:47), và của người đàn bà hoại huyết bất trị 12 năm (x.Lk.8:48).
Trường hợp cảm nghiệm chiêm niệm điển hình thứ nhất là của người phụ nữ Samaritanô, vừa ngoại lai lại vừa tội lỗi (ở với người đàn ông thứ sáu cũng không phải là chồng của chị). Sáng hôm đó ngủ dậy, chị phụ nữ này có ngờ đâu ngày hôm ấy, Thiên Chúa làm người sẽ ngồi bên bờ giếng Giacóp chờ gặp chị để tỏ mình ra cho chị. Và quả thực, với lòng khao khát ngay chính trong cuộc đời tội lỗi của mình, được tỏ ra qua lời cầu: Xin Ngài hãy ban cho tôi thứ nước ấy để tôi không còn khát nữa (Jn.4:15), chị đã được Ngài tỏ mình ra:
Tôi là (Ðức Kitô) Ðấng đang nói với chị đây (Jn.4:26), và chị đã nhận ra Ngài: Hãy ra mà xem có vị đã nói với tôi mọi sự tôi đã làm! Ngài há chẳng phải là Ðấng Thiên Sai hay sao? (Jn.4:29).
Trường hợp cảm nghiệm chiêm niệm điển hình thứ hai là của người trưởng ban thu thuế. Có lẽ ông mới chỉ nghe về Chúa Giêsu chứ chưa hề được trực tiếp thấy Ngài một lần nào, do đó, ông mới tìm cách trèo lên cây vả trên đường Ngài sẽ đi ngang qua để mong được xem thấy Ngài. Và lòng khát vọng của một người tội lỗi như ông trong việc tìm kiếm Thiên Chúa làm người, Ðấng đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì hư hoại (Lk.19:10) như ông, đã khiến Ngài tỏ mình ra cho ông: Giakêu, hãy xuống mau. Tôi có ý đến nhà của ông hôm nay (Lk.19:5), và ông đã nhận ra Ngài, khi thưa cùng Ngài: Lạy Chúa, tôi sẽ bố thí nửa phần gia tài của tôi cho kẻ khó. Nếu tôi gian lận của ai chút gì, tôi sẽ bù lại gấp bốn (Lk.19:8).
Trường hợp cảm nghiệm chiêm niệm điển hình thứ ba là của viên đại đội trưởng ngoại bang ở Caphanaum. Viên đại đội trưởng ngoại bang này nhờ người Do Thái đến với Chúa Giêsu thay cho mình, vì ông đã cảm nghiệm được Ngài bằng đức tin mãnh liệt của ông: Lạy Ngài, xin đừng mất công làm chi, vì tôi không đáng được Ngài đến nhà của tôi. Ðó là lý do tại sao tôi không đích thân đến gặp Ngài. Xin Ngài chỉ cần phán một lời là người đầy tớ của tôi sẽ lành mạnh (Lk.7:6-7), một đức tin đã được Chúa Giêsu bỡ ngỡ và khen tặng: Tôi chưa hề thấy một đức tin nào như vậy trong dân Yến Duyên (Lk.7:9).
Trường hợp cảm nghiệm chiêm niệm điển hình thứ bốn là của một người phụ nữ tội lỗi nổi tiếng trong thành (Lk.7:37). Ở chỗ, chị đã cảm nghiệm được Chúa trước cả khi chị đến với Ngài, (có thể là vì chị đã được thấy Ngài một lần nào đó, hay đã nghe Ngài giảng dạy về lòng xót thương như Cha Ngài là Ðấng thương xót trước đó Lk. 6:36), và chính cảm nghiệm chiêm niệm này đã thúc đẩy một con người tội lỗi như chị dám trực tiếp đến gặp Ngài, với những cử chỉ làm cho Chúa Giêsu phải công nhận với chủ nhà mời Ngài rằng: Vì chị đã yêu nhiều nên vô số tội lỗi của chị đã được thứ tha (Lk.7:47).
Trường hợp cảm nghiệm chiêm niệm điển hình thứ năm là của người đàn bà hoại huyết bất trị 12 năm. Cũng thế, bằng đức tin mãnh liệt của mình, (có thể vì bà đã được thấy Ngài tỏ uy quyền của Ngài ra, như qua việc Ngài trừ qủi trước đó Lk.8:26-39), đã cảm nghiệm được vị Thiên Chúa làm người này, trước cả khi bà giơ tay sờ đến gấu áo của Ngài, Ðấng đã tự động phát ra một quyền lực chữa lành cho bà và nói với bà "đức tin của con đã cứu con" (Lk.8:48).
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, dù được trực tiếp sống với Thiên Chúa làm người đi nữa, các tông đồ vẫn phải sống bằng đức tin mới có thể cảm nghiệm được Ngài, bằng không, sẽ chán Ngài mà bỏ đi, như trường hợp một số môn đệ đã ngứa tai về bài giảng bánh sự sống của Ngài (x.Jn.6:66). Cũng thế, không phải hễ ai có cảm nghiệm chiêm niệm là không bao giờ sẽ làm mất lòng Chúa tí nào nữa. Thánh Phêrô tông đồ vừa thần hứng cảm nghiệm được "Thày là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt.16:16), thì ngay sau đó thánh nhân đã bị Ngài quở trách nặng lời: "Ðồ Satan, hãy cút đi cho khuất mắt Ta" (Mt.16:23).
Vẫn biết "Thiên Chúa là tình yêu" (1Jn.4:8) có thể tỏ mình ra cho bất cứ ai, vào bất cứ lúc nào. Song linh hồn sẽ không thể cảm nghiệm chiêm niệm nếu không thiết tha "Ấp-ủ Ước-Vọng Thánh Thiện" : "Ấp-ủ Ước-Vọng Thánh Thiện" chính là hạt giống chiêm niệm! Tác giả tác phẩm qủa thật là "người đã đạt tới" (trang ) bậc chiêm niệm. Bằng không làm sao tác giả, qua tác phẩm "Ấp-ủ Ước-Vọng Thánh Thiện" chuyên về cảm nghiệm chiêm niệm này, lại có thể tỏ ra lão luyện để chia sẻ với độc giả chúng ta.
Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL