Yêu có hai thứ: Yêu vị lợi và Yêu không vị-lợi
Yêu vị lợi : là yêu ai, hoặc vật gì ta thấy có lợi cho ta.
Yêu vô vị lợi: Là khi ta đem lợi ích cho người khác.
Catherine Huech, một hoạt-động xã-hội viên người Nga, tả tình-yêu vô-vị-lợi bằng mấy câu thơ sau đây:
"Chuông ơi chẳng phải là chuông,
Tới khi vang tiếng boong boong đúng rồi.
Bài ca chẳng tự phát lời,
Tới khi tiếng hát rung đôi môi hồng.
Yêu thường chôn tận đáy lòng,
Đôi khi cũng chẳng vuông tròn thương yêu.
Tình yêu vẫn chỉ tình yêu,
Thanh-cao là lúc san đều tha-nhân.(Dịch thành thơ của Hoàng-Phạm. Amhurt, Mass. 10/11/2002)
Mô-tả tình yêu cuả Catherine Huech rất thích hợp với tình yêu giữ Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Đức tin cho ta biết: "Chúa là tình yêu" ( 1 GA 4: 10). Vì Chúa là tình yêu, Chúa không thể giữ tình yêu đó ? trong mình, Chúa sinh ra Chúa Con là Ngôi Hai. Một khi Ngôi Hai chịu lấy hết tình yêu cuả Cha, Ngôi Hai không thể giữ tình yêu đó cho mình, Chúa đã trả lại hết tình yêu đó cho Cha. Trong sự ban ra và trả lại tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con phát- xuất (proceeds) Ngôi Ba, là Chúa Thánh Thần. Ngôi Ba là tình yêu, là cái ôm, cái hôn cuả Chúa Cha và Chúa Con. Trong cuốn Tấm Gương Đức Tin, William Thierry viết: "Cũng như Chúa Thánh Thần là tình yêu, là cái ôm, cái hôn giữa Chúa Cha và Chúa Con, Chúa Thánh Thần cũng là tình yêu, là cái ôm, cái hôn giữa Chúa và linh hồn ta."
Chúa Thánh-Thần là "Đấng Làm-Tin" cuả tình yêu Chúa cho ta. Thánh Phaolô viết: "Tình yêu Thiên Chúa đã đổ vào lòng ta, vì Chúa Thánh-Thần đã được ban cho ta." (Rom. 5: 5).
Vì muốn san sẻ tình yêu vô cùng cuả Chúa Ba Ngôi ra ngoài Mình, Chúa đã dựng nên vũ-trụ, nhất là thiên thần và loài người. May mắn hơn thiên thần, loài người được dựng nên giống hình ảnh cuả Thiên Chúa ( Sáng-Thế: 1: 27), nghĩa là được thông phần bản-tính cuả Thiên Chúa: được thông phần hiểu biết, và tình yêu cuả Thiên Chúa. ( 2 Peter 1: 4). Thánh Gioan viết: "Đây là tình-yêu, không phải ta yêu Chúa, nhưng là Chúa yêu ta trước." ( 1 GA 4:9) Khi ta áp-dụng tài nằng hiểu biết và yêu mến để kết hợp mật thiết với Chúa, tức là ta có cảm-nghiệm về chiêm-niệm. Nói tắt, chiêm-niệm là "Nhìn Chúa hiện-diện trong ta bằng đưc-tin mạnh mẽ, và ôm lấy Chúa bằng đức mến thiết tha."
Từ nhiều năm, các thánh tổ-phụ và tiên-tri mong chờ và sửa soạn việc Nhập-Thể của Chúa Kitô. Trung tâm điểm của dự-án Thiên-Chúa là một người Nữ trẻ tuổi, người nữ sẽ hiến thân cho Chúa tất cả những gì là nhân loại. Khi Maria cầu nguyện, trông đợi và kêu cầu Thiên Chúa sai Đấng Cứu Chuộc đến với dân Ngài, Tổng-Thần Gabriel đến và chào bà: "Kính mừng Maria đầy ơn phúc; Chúa ở cùng bà; bà có phúc lạ hơn mọi người nữ !" (Luca 1: 28).
Maria đã đáp lại lời chào này thế nào ?
Mẹ đã ở lặng. Nhưng khi suy nghĩ lời chào của Thiên Thần, Mẹ cảm thấy bối rối. Mẹ bối rối vì lòng khiêm tốn của Mẹ; bối rối vì lời chúc tụng vượt qúa thân phận thấp hèn của Mẹ. Thấy Maria bị bối rối về lời chào của mình, thiên thần Gabriel buộc phải trấn-an Mẹ; Thiên thần nói:
"Maria hỡi ! Xin đừng sợ ! Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ Con Trai; rồi Trinh Nữ phải đặt tên cho Người là Giêsu. Người sẽ trở nên cao trọng và sẽ được là Con Đấng Tối Cao. Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người vương tòa của David tổ-phụ Người sẽ vô cùng tận (Luca 1: 31-34).
Maria thưa với Thiên Thần rằng: "Thế nhưng, điều này sao có thể được, vì tôi là trinh nữ, tôi không biết người nam ?" (Luca 1: 35)
Thiên Thần đáp: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với Trinh Nữ, và quyền phép của đấng Tối Cao sẽ bao phủ trinh nữ; bởi thế Con trẻ sinh ra sẽ là Thánh và sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Xin Trinh Nữ biết điều này là: Isave dì của trinh nữ cũng đã mang thai trong tuổi gìa, người mà dân chúng cho là son sẻ nay đã cưu mang được sáu tháng, vì không có gì Thiên Chúa không làm được".
Maria thưa: "Này tôi tá nữ của Chúa ! Xin hãy thể hiện nơi tôi những lời người truyền dạỵ"
Từ đây bắt đầu mầu-nhiệm Mân-Côi, mầu nhiệm phải có đời đời mới dài đủ để chiêm-niệm. Khi Mẹ nói: "Này tôi tá nữ của Chúa ! Xin hãy thể hiện nơi tôi những lời người truyền dạỵ" tức là lúc Mẹ trở nên Bạn Trăm Năm của Chúa Thánh Thần, và cùng với Mẹ, toàn thể Giáo-Hội, tức là mỗi người chúng ta trở nên thê-nương của Chúa Giêsu.
Khi Mẹ nói 'Này tôi là tôi tá nữ cuả Chúa, tức là chính lúc Mẹ cởi mở cả người Mẹ cho Chúa để Chúa Thánh-Thần gieo hạt giống Con Thiên Chúa vào lòng Me, và từ đó sấp đi, sự sống cuả Mẹ, máu thịt Me tr? nên Mình Thánh Chúa Giêsu Con Mẹ.
Ôi ! còn câu trả lời nào tuyệt vời hơn, nhã nhặn và khiêm tốn hơn câu trả lời của Mẹ; câu trả lời làm Thiên Đàng mừng rỡ, và mang cho Thế gian một biển cả đầy ân sủng !. Trong bài giảng Chúc-tụng Trinh Nữ Maria, Thánh Benard đã gán vai trò làm Mẹ của Mẹ Maria cho lòng khiêm nhượng của Mẹ. Ngài lý luận thế này:
"Anh em có thể được cứu rỗi mà không cần đức Trinh Khiết; nhưng nếu không có lòng Khiêm Nhường anh em sẽ không được cứu rỗi. Mất đức Trinh-Khiết mà Khiêm nhường nhớ tiếc thì là phải. Trái lại, tôi dám nói rằng, không có đức Khiêm Nhường thì ngay cả đức Trinh-Khiết của Mẹ Maria cũng không được Chúa chập nhận. Chúa phán: "Thần Linh của Ta sẽ ở trên ai, nếu không phải trên kẻ Khiêm nhường và ăn năn thống hối. (Is. 66:2).
"Hãy để ý lời Chúa nói: "Thần Chúa ở trên kẻ khiêm nhường, chứ không phải trên kẻ đồng trinh. Nếu Mẹ Maria không khiêm nhường, thì Thánh-Thần đã không ở trên Me. Nếu Thánh Thần không ở trên Mẹ, thì Mẹ không thể thụ thai. Nhưng Mẹ đã thụ thai, vì như Mẹ nói: 'Chúa đã nhìn xuống sự thấp hèn cuả nữ tá Chúa,' hơn là 'trên sự khiết-trinh cuả Mẹ."
Mà cho dù có vì đức trinh khiết cuả Mẹ, mà Mẹ có phúc đi nữa, thì việc Mẹ thụ thai là do lòng khiêm nhường cuả Mẹ. Thế nên, chắc chắn đức đồng-trinh cuả Mẹ có làm Chúa hài lòng, thì chính là vì lòng khiêm nhường cuả Mẹ đã giúp đức đồng trinh." (Magnificat In Praise of the Blessed Virgin Mary. Cistercian Publications, CF 18, pp.9-10).
Khiêm nhường là nhân đức chính để Chiêm-Niệm mầu-nhiệm Mân-Côi, cũng như mọi mầu-nhiệm cao cả nhất về Thiên-Chúa. Vì lẽ đó các Thánh Giáp-phụ nhấn mạnh nhân đức khiêm nhường là nhân đức quan trọng nhất của Trinh Nữ Maria, và là nhân đức chúng ta phải theo, nếu chúng ta muốn chiêm-niệm mầu nhiệm Mân-Côi, và cảm nhiệm sự kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu con Mẹ.
Maria là gương mẫu cuả linh hồn chiêm-niệm và yêu mến phó mình cho Chúa. Khi thiên thần Gabriel truyền tin cho Mẹ là Mẹ sẽ chịu thai và sinh Con bởi phép Chúa Thánh Thần, thì Mẹ cởi mở mình hoàn toàn cho Chúa. Mẹ nói: "Này tôi là tôi tá nữ cuả Chúa, xin làm cho tôi như lời nguời dậy." (Luca 1: 38). Mẹ cởi mở hoàn toàn cho Chúa như một người đàn bà, để cho hạt giống cuả Chúa vào tử-cung cuả Mẹ. Trong cuốn Maria là Cung- Lòng cuả Thiên Chúa, Cha George Moloney viết: "Maria, chiêm-niệm-sỹ, là biểu-hiệu nữ tính ở trong tất cả mọi người. Chúng ta sống như người tín-hữu, Giáo-hội trở nên Mình Mầu-nhiệm sống-động, là khi nào chúng ta nhượng-bộ cho nữ-tính trong ta. Cung-lòng cuả Mẹ Maria mô tả cho ta biết trong chỗ sâu-thẳm cuả tiềm-thức ta có một sự khao khát, muốn bao vây lấy Đấng vô cùng siêu-nhiên."
(George Maloney, S.J. Mary, The Womb of God, p. 21-22)
Tâm-lý-học Á-Đông cho rằng sự hoà hợp cuả hai nguyên-tắc Âm và Dương, nữ-tính và nam-tính, làm ta trở nên con người hoàn-toàn. Theo sự khôn-ngoan Á-Đông cổ kính này, ta có thể nói: liên lạc cuả ta với Thiên Chúa cũng do sự hoà hợp cuả hai nguyên-tắc đó. Trong cuốn Mystique et Conscience L. Beirmaert quả quyết rằng." Chính do linh hồn mà ta kết hợp với Chúa, và kết-hợp với Chúa theo nữ-tính." (L. Beirmaert, Mystique et Conscince, Paris, 1951, p. 377)
Sinh đẻ ra Chúa Giêsu mà còn đồng-trinh là một kỳ-công lớn nhất cuả Thiên Chúa. Nó có thể được là vì Maria cởi mở hoàn toàn cho Chúa. Sinh đẻ đồng-trinh thiêng liêng cũng có thể thực-hiện trong mỗi người chúng ta, khi ta cởi mở cho Chúa. Khi suy ngắm mầu-nhiệm này Cha Bede Griffts viết:
"Sự sinh đẻ đồng trinh ra Chúa Giêsu được hoàn-thành la vì một người đàn bà hoàn toàn yêu mến, phó mình cho Chúa. Cái mà tình yêu nhân loại cố đạt được một cách không thoả mãn, do tình-dục và hôn-phối, thì tình yêu Chúa thoả-mãn được. Mầu-nhiệm tình yêu hoạt-động trong tạo-vật, trăng sao, nguyên-tử, cây cối, loài vật và nhân loại, thì ở đây được hoàn-thành.
"Cùng với Mẹ Maria, nhân loại được thành hôn với Thiên Chúa. . . Ngoài sự-hữu vật-ly và tâm-lý, ta cần khám-phá ra sự-hữu thiêng liêng, bản chất đời đời cuả chung ta; ở đây mầu-nhiệm tình yêu được hoàn-tòan thoả mãn." (Bede Griffts, Return to the Center, pp. 64-65)
Họ kể rằng, "Một hôm trời đẹp, Xuân và Thu, hai bạn thân đi dạo trong vườn hoa. Xuân hỏi Thu:
(Charles L. Wallis, ATreasure of Sermon
illustration p.46.
Danh hiệu của đối thoại được thay thế. )
Ta cần biết rằng tất cả chúng ta đều là một đoá hoa. Nếu ta biết chiêm-niệm như Mẹ, nếu ta thân-mật biết Chúa, và sâu-sa yêu Chúa, ta có thể nói như Người Yêu cuả Diễm-tình-Ca: "Em là Hoa Huệ ở ngoài đồng." (Diễm-Ca: 2: 1). Hoa này luôn hướng về mặt trời, và như Thu, bạn có thể nói:
Như mặt trời đối với hoa thế
nào,
Chúa Giêsu đối với tôi như thế:
Chúa là Mặt Trời của tôi!
Thank You!
Joseph Chu-Công, O.C.S.O.